I want to love you more!

Showing posts with label jesuit. Show all posts
Showing posts with label jesuit. Show all posts

Sunday, May 13, 2012

Kỷ niệm 400 năm CÁCH MẠNG TRUYỀN GIÁO DI NOBILI BÊN ẤN

Hoành sơn

Năm 2010 vừa qua, cả thế giới (gồm Trung Quốc luôn) đã tưng bừng khánh niệm 400 năm ngày ly trần tại Bắc Kinh của một nhân vật vĩ đại, cha Matteo Ricci, được ngưỡng mộ vừa như người tiên phong trong giao lưu khoa học-văn hóa Đông-Tây, vừa như một trong hai nhà truyền giáo, cũng tiên phong trong kế sách hội nhập văn hóa. Người tiên phong thứ hai về mặt này, đó là cha Roberto Di Nobili, cũng người Ý (và Dòng Tên). Phải chăng vì dân Ý là dân cởi mở nhất bên Tây trong việc tiếp thu ánh sáng của những nền văn minh xa lạ? Chúng ta nên nhớ, vào thế kỷ XIII, cũng một người Ý khác là Marco Polo đã du hành Phương Đông, cho tới tận xứ sở các Con Trời (Thiên Tử), và nói về văn minh này với nhiều kính nể.

Năm 2010, tôi đã viết về Ricci, năm nay không thể tôi không nói về Di Nobili nhân 400 năm (1612-2012) cuộc Cách mạng truyền giáo của cha bên Ấn Độ. Tôi nói CÁCH MẠNG TRUYỀN GIÁO, vì tuy việc trruyền giáo đã khởi sự từ trước ở đấy, nhưng cách làm của cha đi ngược hẳn cách làm của những thừa sai tiền nhiệm, do đó gây sóng gió lớn, không những làm cha đau khổ, mà còn khiến thiệt hại cho việc Phúc âm hóa đất nước đông dân thứ hai của thế giới ấy.

Tình trạng xã hội Ấn và ngõ cụt truyền giáo

Không dân tộc nào sùng đạo như dân Ấn, nhưng cũng không đất nước nào bị phân hóa xã hội cho bằng đất nước Nam Á này..

Về mặt tôn giáo, tuy Ấn giáo chia thành hai ngành, ngành lấy Vishnu làm thượng thần, ngành lấy Shiva làm đấng tối cao, nhưng các thần đều được thờ chung ở cả hai bên. Sống đạo cũng vậy, cư sỹ (tín đồ tại gia) tới cầu nguyện ở đền thờ, còn tu sỹ sống một mình trong rừng hoang hay sơn cốc, nhưng hai bên không hề va chạm nhau.

Về mặt xã hội thì khác hẳn. Dân Ấn chia thành những giai cấp cha truyền con nối, tức tập cấp (castes), và giữa những tập cấp khác nhau, người ta không kết hôn với nhau, tránh tiếp xúc với nhau. Thậm chí một số người bị loại khỏi tập cấp (outcastes), trở thành dơ dáy, được gọi là Candala (sanskrit), Dalit, Pariah (tamil), nghĩa là BẤT KHẢ XÚC ( Intouchables, Untouchables). Theo niềm tin lâu đời, sự phân cấp ấy là tự nhiên. Kinh Veda cho biết, từ Con người nguyên sơ Purusha[1] bị sát tế, các thần đã phân chia thân thể ấy mà làm nên bốn tập cấp cao thấp khác nhau:

Khi các thần phân xẻ Con người,

Họ làm nên mấy phần?

Miệng thành gì, cánh tay thành chi?

Là gì cẳng chân, là chi bàn chân?

Miệng thành tế sư (brahmana)

Cánh tay thành chiến tướng (ksatriya),

Cẳng chân nên công-nông (vaisya),

Bàn chân nên nô bộc (sudra).

Rigveda X.90

Có điều quyển X của sách Rigveda tập hợp những bài kinh khá mới, riêng bài kinh 90 chỉ có mặt sau công nguyên, cốt ý giải thích một tình trạng xã hội sẵn có rồi, đồng thời xác định địa vị cao nhất của tế sư. Chứ hẳn nhiên trước đó, địa vị cao nhất phải thuộc về giai cấp cai trị là ksatriya (do chữ ksatra là việc cai trị) từ đó chọn ra vua và những sỹ quan trong quân ngũ cùng với người cai quản trong vương quốc. Bằng chứng được tìm thấy trong bộ sử thi vĩ đại Mahâbhârata được hoàn tất vào thế kỷ II trước công nguyên, trong đó rõ ràng địa vị của vua và ksatriya là cao nhất.

Thật ra, cách đây 3500 năm sau khi dân Ârya từ Tây-Bắc sang xâm lăng Ấn Độ, tại xứ sở này chỉ có hai giai cấp : giai cấp thống trị là Ârya da trắng, giai cấp bị trị, gọi daisyu hay man di, là người Ấn da đen. Chính vì thế, tiếng dùng để chỉ tập cấp là Varna, nghĩa là mầu sắc, sắc da. Phân biệt thống trị-bị trị nay đã đổi thành phân biệt theo ngành nghề, nhưng tiếng Varna thì vẫn được dùng để chỉ tập cấp.

Có bốn tập cấp chính : tế sư, vương tướng, công nông và nô bộc, trong đó chỉ ba tập cấp trên có khả năng tôn giáo. Thật ra, khả năng ấy đầy đủ nhất là ở tập cấp tế sư, balamona (brahmana). Và cũng chỉ balamona mới học hành cao, và phải cố sống theo bốn giai đoạn (âsrama) của bộ luật Manu : lúc niên thiếu thì làm tập sinh (brahmacârin), thụ huấn với một sư phụ; lớn lên thành cư sỹ (grihastha), nghĩa là lập gia đình, có bổn phận tế tự; khi đã lo cho con cái thành gia thất thì vô ẩn tu trong rừng; đợi khi lòng thoát tục, sẽ đi lang thang và trở thành tu sỹ bỏ đời, chờ ngày giải thoát hay giác ngộ.

Như đã nói trên, thuộc tập cấp khác nhau thì khó tiếp xúc với nhau. Nhất là không thể tiếp xúc với người ngoại tập cấp (outcastes), vì bản chất họ dơ dáy, bất khả xúc (untouchables). Chỉ cần bóng họ đi qua, phủ lên thức ăn, là thức ăn ấy phải đổ đi, không ăn được nữa. Biết như thế, ta mới hiểu sự trruyền giáo xuyên tập cấp là điều khó khăn thế nào.

Sự bế tắc truyền giáo ở Madurai vào đầu thế kỷ XVI

Madurai là một thành ph lớn, nay thuộc bang Tamil Nadu với thủ phủ Chennai (xưa là Madras) .. Về phía đối diện ở Tây Nam có căn cứ quân sự của Bồ Đào Nha tại Goa, từ đó hải quân Bồ có thể kiểm soát toàn vùng bờ biển Nam Ấn. Do đó, người Bồ theo sang đấy buôn bán và truyền giáo. Họ đi sâu vào đất liền, ở đó có những tiểu vương quốc như Madurai.

Theo đạo lúc ấy rất ít người, và hết thảy thuộc tập cấp Bất khả xúc (Pariah, Dalit). Trưc hết, đó là dân Paravers mò ngọc trai. Vì bị người Hồi đoạt hết miếng ăn và đàn áp khốn khổ, nên họ chạy đến xin quân Bồ che chở, và quân Bồ đánh đuổi lũ cướp biển Hồi giáo, giúp Paravers trở lại với nghề mò ngọc trai cũ. Do đó mà họ theo đạo đông. Cho đến năm 1537, tất cả đã chịu Phép rửa, khoảng hai chục ngàn người, nhưng gần như không được dạy dỗ gì, lại chỉ có một linh mục coi sóc thôi. Năm 1542, thánh Phan sinh Xavier tới, thấy họ dốt giáo lý quá, nên dừng lại một thời gian để dạy.

Loại người thứ hai theo KTG là một số rất ít những cô gái thuộc tập cấp rất thấp hay ngọai tập cấp, họ theo đạo để lấy chồng Bồ, nhờ đó được cấp phát nhà cửa và ruộng đất tịch thu từ người Hồi giáo.

Người theo KTG thuộc cả hai loại, đều ăn mặc như Bồ, ăn thịt như Bồ và sống theo cách Bồ, nên họ bị người Ấn ghê tởm và xa lánh. Nhất là từ khi có sắc dụ 1546 của vua Bồ, ra lệnh cấm thờ thần tượng trong vùng thuộc địa của Bồ Đào Nha; riêng tế sư nếu bị bắt quả tang tiếp tục hành nghề, sẽ bị tù khổ sai và tịch biên gia sản. Vì thế, người Ấn càng ghét Bồ và ghét người theo đạo Bồ, mà họ gọi là Prangui một cách khinh bỉ. Không may là các thừa sai, phần vì dốt tiếng Tamil và không hiểu phong tục Ấn, phần khác ít tiếp xúc với người Ấn học thức nên không hiểu họ nghĩ gì, nên tự đồng hóa mình với Prangui, để rồi thay vì hỏi ai đó có muốn theo Kytô giáo không, thì lại hỏi :-Có muốn gia nhập tập cấp (markam, vedam, kulam) Prangui không?

Như thế, làm gì có ai vì tôn kính mà theo Kytô giáo đây? Sau 12 năm trời làm việc, cha sở Fernandez không kiếm nổi dù chỉ một tân tòng, đành làm phép rửa gấp gáp “in articulo mortis” cho mấy kẻ hấp hối, thế thôi. Tình trạng bi đát đến nỗi cha Giám tỉnh dòng Tên Laerzio phải than thở :

-“Sự ghê tởm của dân Ấn đi với người Bồ hay Prangui, đi kèm với nỗi lo mất danh hiệu quý tộc để rồi bị (đồng bào) khinh bỉ mãi mãi, chính những điều ấy khiến người ta không cách nào theo Kytô giáo được. Truyền giáo kiểu này, đi đôi với sự dốt tiếng Tamil, đã gây những hiểu lầm thực vô cùng tai hại.”

Đang lúc cha Laerzio và đức Tổng giám mục Roz, cũng dòng Tên, lâm cảnh bế tắc không lối thoát như thế, thì Trời gửi đến cho họ một cứu tinh, cha Roberto Di Nobili!

Cha Di Nolili và cuộc cách mạng truyền giáo ở Madurai

Roberto sinh năm 1577 ở Roma, từ dòng họ quý tộc danh tiếng Di Nobili, trong đó có giáo hoàng Julius III (trị vì từ 1550 đến 1555) và một số hồng y, mà vị đang sống lúc ấy là hồng y Sforza, con nữ bá tước Sforza Di Santa Fiore. Hồng y này, vì thấy Roberto học rất giỏi, nên đặt nhiều kỳ vọng vào người em họ của mình, mong ít là cậu cũng trở thành hồng y như mình.

Thế nhưng Roberto lại nuôi một tham vọng ngược lại, cậu muốn vô dòng Tên, mà dòng này muốn các thành viên phải lánh xa những chức tước như hồng y và giám mục. Thế là hồng y Sforza bèn vận động cả gia tộc chống lại ý định trên của Roberto, khiến cậu bé 16 tuổi phải “đào vi thượng sách”, một mình vượt biên giới đến ẩn lánh ở vương quốc Napoli, trong dinh của nữ công tước Di Nocera, tên Anna Carafa. Bà này cho cậu hầu cận hai năm bên mình, và giúp cậu tiếp tục việc học. Trong khi ấy, bà cũng dùng thế lực của mình mà vận động gạt bỏ những rào cản từ phía gia tộc Di Nobili. Cuối cùng, một cách “không kèn không trống”, Robeto đã có thể vô tập viện dòng Tên ở Napoli. Sau nhà tập, Roberto theo đuổi việc học ở Napoli, rồi Roma, kế đó thụ phong linh mục năm 1603.

Ngay khi còn ở nhà tập, Roberto đã bày tỏ ý nguyện muốn được đi truyền giáo bên Ấn. Một lần nữa, sóng gió lại nổi lên từ phía dòng tộc Di Napoli, nhưng Roberto cương quyết giữ nguyên ý định của mình. Cuối cùng, cha Tổng quyền D.T. Aquaviva phải can thiệp, và gia tộc Di Nobili chịu lui bước.

Với ý chí kiên cường đi đôi với tài học như vậy, lắm người đã thấy trước được những gì phi thường cha sẽ thực hiện ở phương trời xa xôi kia.

*

Di Nobili xuống tầu năm 1604 và cập bến Goa một năm sau. Tại đây, cha bệnh tưởng chết. Sau khi khỏi bệnh, cha được Giám tỉnh Laerzio điều tới làm việc ở Madurai.

Ở Madurai, Roberto thấy rõ sự bế tắc truyền giáo, và sau một thời gian ngắn tìm hiểu, cha nhìn ra căn bệnh. Căn bệnh ấy là sự kém hiểu biết về địa phương của thừa sai, sự khinh bỉ của dân Ấn đối với cái mà họ gọi là “Đạo người Bồ”, cũng là sự lẫn lộn Kytô hữu với Prangui.

Vì thế, để bắt đầu, cha ra ở riêng để khi dính dấp tới người Bồ và Prangui. Đồng thời, cha dành hết thời gian để học kỹ ngôn ngữ Tamil, không phải thứ Tamil bình dân, mà Tamil văn học. Cha cũng học kỹ tiếng Sanskrit, nhờ đó đi sâu vào Veda và các kinh thư khác của Bàlamôn giáo[2]. Qua hai ngôn ngữ này, dần dà cha nắm vững được các vấn đề văn hóa-xã hội-tôn giáo của chung xứ Ấn và của riêng miền Nam.[3]

*

Bằng cách ra ở riêng, ăn vận và sống theo kiểu các tu sỹ bỏ đời, cha tỏ ra cho thấy cha thuộc dòng quý tộc Roma, cũng là một samnyâsin sang truyền bá nền minh triết (vidya) đích thực. Quả thế, cha ăn chay chứ không ăn thịt như Prangui và người Bồ, cha cũng bỏ giầy mà đi guốc, lại mặc áo cà sa, quấn khăn, mang dây đeo balamona (có thánh giá) và để chỏm tóc kudumi. Cha lại sống cô độc, ở nơi thanh vắng và ít tiếp khách. Riêng về mặt kinh thư Ấn giáo, khi tranh luận cha có thể trưng thuộc lòng bất cứ đoạn nào, y như một balamona thông thái vậy. Số là cha được học với một balamona uyên bác, tên Shiva-dharma, và ông này, cảm phục vì đức độ và sự thông minh của cha, đã chép tay các kinh thư cho cha học, trong khi những sách thánh này, đáng lẽ chỉ hàng balamona mới có quyền tiếp cận thôi.

“Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa”, chẳng bao lâu khắp xứ nghe bàn tán về nhà tu hành quý tộc da trắng ấy, và khá nhiều balamona cùng quan chức Madurai bắt đầu xem cha như một guru (hiền triết sư phụ) để sẵn sàng nghe cha giảng thuyết. Cha thuyết cho họ về thứ Pháp (dharma) Kytô giáo, mà cha không gọi là đạo Prangui. Cha cũng cho họ biết, muốn thành đệ tử của cha, người ta không phải bỏ tập cấp của mình và những thói tục đi theo tập cấp ấy. Vâng, ai là balamona thì vẫn là balamona, cứ việc đeo dây balamona, giữ chỏm tóc kudumi, dùng bột trầm và làm các nghi thức tắm rửa. chỉ cần thay các lời kinh cũ bằng lời kinh Kytô giáo, khi đeo dây chẳng hạn. Tiến xa hơn nữa, thay vì đặt tên Bồ cho người chịu Phép rửa, cha lấy tên tamil hay sanskrit đặt cho họ, như Devadatta (Thiên Chúa-được tặng trao),v.v…[4]. Cha cũng thích nghi trong vấn đề cúng cơm-sữa ngày đầu năm, bằng cách cứ cho cúng, nhưng thay vì cúng trước thần tượng, thì cúng trước thánh giá, thế thôi. Cha còn ban phép lành cho cơm-sữa dùng để cúng nữa.

Dĩ nhiên là trước khi thi hành những thay đổi như thế, cha đã thỉnh ý cha Giám tỉnh, còn vị này thì bàn với Đức cha Roz. Cả hai vị, cùng với đức Giáo trưởng Goa đặt rất nhiều kỳ vọng vào phương pháp mới này, mong rằng nó mở được cánh cửa Madurai và Ấn Độ nói chung cho Phúc âm hóa.

Và xảy ra đúng như vậy. Ngay năm đầu tiên đã có năm chục tân tòng, trong số đó có chính balamona thông thái Shivadharma, thầy dạy ngôn ngữ của cha. Ông này, sau 20 ngày tranh luận với cha, mỗi ngày năm giờ, đã chịu khuất phục và chịu Phép rửa dưới tên mới là Alberto. Một khi đã thành Kytô hữu, ông trở nên một nhà truyền giáo hăng say, và nhiều người quý tộc theo gương ông.

Cánh cửa đã mở, và thành công lớn không ngờ, khiến Đức cha Roz phải reo lên trong bức thư gửi cha Tổng quyền Aquaviva như sau :

-“Thế là cha Roberto tốt lành ấy đã đi trước hết mọi người -tôi tin như thế-, để nhờ sự linh ứng rất đặc biệt của Chúa Thánh Thần, cha tiến vào thành phố Madurai vĩ đại, thủ đô của thần tượng cũng như của nền bác học balamona… Cha đã ăn mặc và sống theo người địa phương, từ bỏ hết mọi tiện nghi thể xác cùng với quốc tính của mình. Cha đã học được ba ngôn ngữ rất khó [tamil, sanskrit, telougou], đã hiểu sâu những bí nhiệm thần thánh Ấn Giáo… Tôi đã trao đổi với cha Roberto về ngôn ngữ và phong tục địa phương. Nghe cha, tôi rất ngỡ ngàng. Tôi nghĩ mình cũng nắm được phần nào ngôn ngữ [tamil] ấy, nhưng tôi phải thề trước Phúc âm rằng : không ai có thể ngờ cha đã thể hiện ngôn ngữ nói trên một cách tự nhiên đến vậy, cũng như đã sống khổ hạnh đến độ ấy.

…………………………………………………………….

“Sau khi đức Giáo trưởng Menezès biết truyện, nhất là khi thấy cha Roberto đã lôi kéo được một số balamona vào đạo, thì Ngài cảm động vô cùng. Ngài còn thêm câu phát biểu tuyệt vời như sau; “Tạ ân Chúa nếu số người sống đạo hạnh theo gương cha Roberto cũng đông bằng số kẻ gièm pha lối sống của cha! Riêng tôi, tôi chẳng ngại đeo sáu trăm dây balamona chỉ vì sự cứu độ dù của một linh hồn!”

Và cứ vậy công cuộc truyền giáo tăng tốc. Nên nhớ, không như trước kia khi người theo đạo là kẻ ít học, và họ theo đạo chỉ vì cái lợi vật chất trước mắt thôi. Chứ người theo đạo bây giờ là người có học,: họ tự đến nghe giảng, tranh luận, rồi mới quyết định. Công việc tuy bận rộn, nhưng đầy hưng phấn, và một số linh mục, như cha Vico, cũng tới gia nhập đoàn quân viễn chinh. Dù bị cấm làm phép rửa trên mười năm, nhưng khi cha Roberto qua đời năm 1656, đã có 40.000 người theo đạo. Con số sẽ thành 75.000 vào đầu năm 1688, và vào đầu thế kỷ sau, vọt tới trên 100.000.

Đất bằng nổi sóng

Một cuộc thay đổi lớn, đến đảo lộn tất cả như thế, sao khỏi gây sóng thần.

Sóng gió bắt đầu từ chính hàng tế sư Ấn Độ giáo. Trước đó, chỉ có ngoại tập cấp theo “đạo Bồ” thôi, nên không mấy ai quan tâm. Nhưng nay thì đã có hàng quý tộc, thậm chí balamona tới làm đệ tử người samnyâsin xa lạ kia, nên sự việc ấy làm chấn động Madurai. Hàng tế sư bèn tới kiện nơi tiểu vương Nayakker. Theo họ, thì Roberto vô thần, phá bỏ việc thờ cúng Vishnu và Shiva. Nhân dịp đang có nạn hạn hán, họ bèn đổ tội cho cha, rằng đây là hình phạt do các thần giáng xuống vì sự phạm thánh của cha.

May mắn thay khi ấy, một bạn thân của cha rất có thế lực tại triều đình đứng ra bênh đỡ cha. Không chịu thua, 800 tế sư tập họp lại để nghe một người tố cáo cha. Lần này, chính ông thầy dạy ngôn ngữ cho cha đứng lên phản bác. Ông nói khéo léo đến nỗi, thay vì luận tội cha, các tế sư lại đem lòng kính trọng nhà tu hành thoát tục da trắng ấy.

Một lần khác, trong đám dân mò ngọc trai có kẻ tới xúi dục đệ tử cha, rằng họ bị cha đánh lừa, rằng chính cha cũng chỉ là một prangui, và thứ muối cha cho họ ăn lúc chịu phép rửa, cũng như chính phép rửa, đều thuộc nghi thức gia nhập prangui. Thế là nhốn nháo cả lên, và một số bỏ cha. Không sao được, cha đành phải viết rõ trên lá tán treo trước cửa nhà, rằng cha thuộc dòng quý tộc Roma, chứ không phải prangui gì cả.

Dẫu sao chăng nữa những khó khăn từ phía dân Ấn chỉ là chuyện nhỏ so với những chống phá cha gặp từ chính anh em đồng đạo của mình, các thừa sai dòng Tên.

*

Quả thế, sóng gió nổi lên từ phía anh em dòng Tên, bắt đầu là cha Gonsalo Fernandez.

Để giúp cha Roberto dễ thi hành kế sách mới, cha Giám tỉnh Laerzio bèn sai cha Fenandez đi công tác một thời gian ở bờ biển. Lúc trở về, cha này thấy cha phụ tá làm đảo lộn tất cả, và hình như muốn dạy mình một bài học.

Quả vậy, Roberto bỏ hẳn cách sống quen thuộc của các thừa sai. Cha ăn mặc theo địa phương chứ không theo Bồ, nói tiếng Tamil chứ không nói tiếng Bồ, ăn chay chứ không ăn mặn như các anh em khác. Nhất nữa còn tuyên bố thẳng thừng: để thành Kytô hữu, người ta không phải trở thành Prangui, lại cứ việc giữ nguyên cách phục sức và tắm rửa theo tập cấp của mình. Nên nhớ, cách phục sức và tắm rửa đó vẫn bị các thừa sai coi là dị đoan. Sự việc càng trở nên rắc rối khi Roberto rời bỏ xứ đạo mà ra ở riêng, rồi làm nhà thờ riêng luôn.

Tức giận, Fernandez đi gõ cửa mọi nơi để kiện. May mắn cho cha, đúng lúc ấy, có một Kinh lược sứ (Visiteur) đến thanh tra hai tỉnh dòng Tên là Goa và Malabar. Đây là cha Nicolas Pimenta. Vừa là người Bồ, vừa có định kiến là phải y theo phương pháp truyền giáo cũ, nên ngài chỉ nghe Fernandez và làm ngơ trước mọi lời trần tình của Roberto, cũng như ý kiến của Giám tỉnh Laerzio, của Tổng giám mục Roz, của Ban tư vấn Tỉnh dòng, của những Kytô hữu được vời đến điều tra. Tệ hơn nữa, Pimenta còn ra lệnh ngưng chức Laerzio và thay thế bằng một giám tỉnh mới thuộc phe mình.

Trong khi ấy ở Roma, với các báo cáo của Kinh lược sứ, người ta tưởng như Roberto đã ci đạo sang Ấn giáo, khiến cả những bạn thân của Roberto, như hồng y Bellarmino, cũng trách cứ cha. Năm 1613, cha Tổng quyền Aquaviva gửi thư sang Madurai, tuy vẫn ủng hộ cách làm của Roberto, nhưng phải tỏ ra dè dặt hơn, khiến Pimenta và giám tỉnh mới có thể giải thích thư ấy theo hướng suy nghĩ của mình, nhờ đó thắt chặt hoạt động của nhóm Roberto. Vâng, giám tỉnh mới, một mặt ngăn chặn thư từ trao đổi giữa Roberto với Đức cha Roz, mặt khác cấm cha không được làm thêm Phép rửa nào nữa. Phe địch còn tìm cách mua chuộc một vài đệ tử của Roberto để họ bỏ cha và đứng lên tố cáo cha.

Thế nhưng, chưa kịp hoàn thành ý nguyện là bãi bò sứ vụ Roberto, thì giám tỉnh mới đột ngột qua đời năm 1615. Cùng lúc, Roma cũng hiểu ra vấn đề, và cả Aquaviva lẫn Bellarmino đều trấn an Di Nobili. Rồi khi Tổng giám mục mới của Goa muốn ép cha từ bỏ kế sách truyền giáo của mình, thì năm 1616, bằng đoản sắc (bref) Cum sicut Fraternitas, Đức Phaolo V hết lòng khen ngợi Di Nobili và căn dặn phải nghiên cứu kỹ phong tục xứ Ấn để thích nghi trong việc truyền giáo. Đến lúc Tổng giám mục nói trên quay sang Tòa Thẩm sát (Inquisition) Lisbonne để xin kết án cha, thì Thẩm sát trưởng lại khuyên ông phải tuân phục Tòa Thánh.

Không chịu thua, Tổng giám muc Goa bèn tổ chức một cuộc tranh luận công khai, với thành phần tham dự phần lớn là người do ông đưa vào. Biết việc ấy, Tòa Thánh cho phép Roberto được tranh cãi bình đẳng với Tổng giám mục. Vì người tham gia hội thảo hầu hết là của Tổng giám mục, nên ông thắng trong bỏ phiếu, trong khi Kinh lược sứ mới cùng với các thần học gia lại ngả theo lập luận của Di Nobili. Bất chấp tất cả, Tổng giám mục bèn vận động lần nữa với Roma để hạ gục cha, trong khi Thẩm sát trưởng ở đây lại gửi báo cáo tán thành việc làm của cha, có kèm theo lời chứng của 130 balamona, họ trưng dẫn kinh thư Ấn giáo để xác nhận bản chất dân sự (civil) của các tập tục mà cha cho phép.

Cuối cùng, bằng sắc dụ (bulle) Romanae Sedis Antistites ký năm 1623, Đức Gregorio XV chính thức cho phép các balamona theo đạo được đeo dây balamona và để chỏm tóc kudumi.

Mười hai năm sóng gió (1613-1624) và bị cấm làm phép rửa, đã khiến công cuộc truyền giáo của nhóm người cách mạng bị chựng lại rất nhiều. Sóng gió ấy nay đã yên, cha Roberto đi lập thêm căn cứ ở những vùng xa xôi, như Tiruchirapalli và Salem. Tại đây, nhiều học giả đến nghe cha thuyết, và một vương gia gửi gấm bốn con trai cho cha dạy dỗ, để rồi cả nhà xin theo đạo. Trở lại Madurai, cha gặp một pandaram đến xin học đạo. Pandaram không phải tập cấp cho bằng một loại người từ nhiều tập cấp miền Nam làm nên. Họ thuộc Shiva giáo, có đeo biểu tượng linga trên người. Họ có thể là người phục vụ trong đền thờ như một thủ quỹ, hay thầy tế ở đền thờ làng... Họ cũng có thể làm tu sỹ khất thực nhưng thuộc tập cấp thấp. Hàng quý tộc không khinh rẻ pandaram, mà pandaram lại không ngại tiếp xúc với tập cấp thấp và ngoại tập cấp. Thấy thế, cha De Nobili bèn nảy ra ý định dùng pandaram để truyền giáo cho những tập cấp này. Điều may mắn là anh chàng pandaram xin học đạo, sau khi theo đạo đã trở thành nhà truyền giáo rất năng nổ, khiến qua anh ta, rồi qua một linh mục Bồ tự cải thành Pandaramsvâmin (pandaram-sư phụ), cha đưa về cho Chúa cả ngàn con chiên. Riêng anh pandaram đầu tiên theo đạo, vì bỏ đạo Shiva và hăng say truyền đạo mới, nên bị chính đồng đạo cũ của mình giết. Và đây là tử đạo đầu tiên của vùng trời phía Nam. Tử đạo thứ hai ở đó sẽ là thánh Gioan De Brito, một quý tộc dòng Tên Bồ. Cha tới Madurai khi Di Nobili mới qua đời. Cha cũng làm Samnyâsin theo gương Di Nobili và mang được mấy chục ngàn người về với Chúa.

Tuy biển đã lặng, nhưng vẫn còn những cơn giông nho nhỏ. Nhất là khi về già, cha không được sống già giữa những người thân tín và con chiên của mình. Lấy cớ là để cha được nghỉ hưu, người ta điều cha tới tận Sri Lanka từ 1646 đến 1648, rồi khi được trở về Ấn Độ, cha lại phải ở xa tít về phía Bắc của Tamil Nadu, tại Madras. Khi ấy cha đã 71 tuổi, hoàn toàn mù lòa, nhưng vẫn sống đời sống khổ hạnh của một samnyâsin. Cả Kytô hữu lẫn người Ấn giáo đều gọi cha một cách kính cần, là Cha thánh. Cha qua đời năm 1656.

Sau khi Roberto đã ly trần được 80 năm, cuộc tranh cãi về phương pháp mới một lần nữa được khơi dậy, gây thiệt hại thêm cho việc truyền bá Phúc âm. Phải chờ sang thế kỷ XX, cánh cửa mới được mở hẳn, và một số thừa sai, như Jules Monchanin và Henri Le Saux đã có thể tiến xa hơn Roberto Di Nobili trong con đường hội nhập văn hóa, mà chẳng ai bắt bẻ gì nữa. Đó là đi vào con đường tu luyện và huyền nghiệm của các sâdhu, và đây mới là thế mạnh của Ấn Độ huyền nhiệm. [5]

Nhìn lại để tổng kết

Với quan niệm Mọi người bính quyền-bình đẳng hiện nay, khó ai còn có thể chấp nhận sự kỳ thị giai cấp, nói chi đến chế độ tập cấp quá khắc nghiệt của Ấn Độ thời ấy. Gần đây, hiến pháp của Ấn Độ độc lập đã xóa bỏ tập cấp, tuy một số người bảo thủ vẫn cố níu kéo lại. Những nhân vật như M.K. Gandhi và R. Tagore, cùng với những phong trào canh tân như Brahmo Samaj đều cương quyết đấu tranh cho sự bình đẳng, và cho một tình huynh đệ không bất cứ biên giới nào.

Vì thế, để hiểu con đường truyền giáo dựa theo tập cấp của Di Nobili, chúng ta phải đặt mình vào thế kỷ XVI, XVII khi mà bên Tây phương vẫn còn nặng sự phân chia giai cấp, giữa một bên là hàng quý tộc và bên kia là các nông nô. Quả thế khi ấy, đất đai thuộc hết về lãnh địa của các công tước, hầu tước, bá tước, tử tước, nam tước. Dân chúng còn lại trở thành nông nô cho họ, làm cật lực mà chỉ được giữ lại phần nhỏ hoa mầu để tạm sống thôi. Và cũng chỉ hàng quý tộc mới được làm quan trong triều, làm tướng lãnh trong quân đội, làm giám mục hay tu viện trưởng trong tôn giáo. Vâng, khi ấy, cả trong Kytô giáo, người ta cũng chấp nhận sự phân biệt giai cấp như một điều tự nhiên, và chưa ai ý thức gì về quyền được đối xử bình đẳng của mọi người.

Trong thời kỳ mà cả bên Âu lẫn bên Ấn, người ta coi phân biệt giai cấp là điều tự nhiên như thế, Roberto Di Nobili chỉ có ý khai phá một con đường cho những giai cấp cao nói riêng, cho dân Ấn nói chung, có thể tiếp cận Tin mừng, thế thôi. Chính những kẻ chống đối cha, họ cũng không hề chống đối vì chủ trương bình đẳng, mà chỉ vì tưởng lầm việc đeo dây balamona và mang chỏm tóc kudumi, v.v.…là dị đoan. Điều đáng trách nơi họ, là trước khi đem Tin mừng đến một vùng trời xa lạ, họ đã không chịu đi sâu vào ngôn ngữ và văn hóa địa phương, hầu giúp Kytô giáo nhập thể vào văn hóa ấy. Vâng, vì kiêu ngạo, họ chỉ biết ban phát chứ không thèm ngửa tay ăn xin, điều ấy đi ngược với con đường nhập thể trọn vẹn của Ngôi Hai Thiên Chúa.



[1] Về huyền thoại Con người nguyên sơ trên thế giới và bên Ấn, xin đọc Hoành sơn Hoàng Sĩ Quý, Le mythe de l’Homme cosmique dans son contexte culturel et dans son évolution, trong Revue de l’Histoire des Religions, avril-juin 1969, tr.133-154.

[2] Ấn Độ giáo chia thành Vishnu giáo và Shiva giáo. Bàlamôn giáo là hướng đi tôn giáo truyền thống, đặt nền trên kinh thư cổ điển là các Veda, các Brahmana, các Aranyaka và các Upanishad.

[3] Tamil là ngôn ngữ phổ thông ở miền Nam ngay trước khi người Ârya tới. Có một nền văn học Tamil và một văn minh Tamil.

[4] Bên Tây phương, người ta quen lấy tên một vị thánh mà đặt tên cho con mình, nhưng không luôn như thế. Thánh Gemma chẳng hạn, vì bố mẹ già rồi mới sinh được một mụn con, nên quý như ngọc, và đặt tên Gemma, nghĩa là Ngọc; chứ trước đó, chẳng có thánh nào tên Gemma cả. Sau này, vì các thừa sai quen lấy tên một thánh mà đặt tên Phép rửa trong xứ truyền giáo, nên giáo luật cũ mới theo thói quen ấy mà ấn định làm như vậy, nhưng bên các xứ truyền giáo thôi. Nhưng đây là việc xảy ra sau này. Đến 1972, vì thấy việc đặt tên thánh không tốt cho hội nhập văn hóa, nên thánh bộ Phụng tự đã bãi bỏ.

[5] Xx. Hoành sơn, Một chứng từ của Đttg bề sâu : Henri Le Saux, trong Sống đạo với Phương Đông, tr. 14-24.

Saturday, April 28, 2012

Mười Nét Đặc Trưng Nổi Bật Của Dòng Tên

Vào những năm gần đây thường thấy xuất hiện những nỗ lực tìm cách thu thập một vài nguyên tắc nổi bật trong các văn bản của thánh I-Nhã, vốn được coi là những đặc tính thường hằng của một hội dòng mà ngài đã sáng lập. Dĩ nhiên một danh sách loại đó giả thiết có những yếu tố chung cho mọi hội dòng trong Giáo Hội Công Giáo, bao gồm sự trung thành tuân giữ những lời khấn tu trì thường tình: khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Mười đặc tính sau đây có thể coi như là bản tóm kết về điều được coi như riêng biệt nhất của tinh thần thánh I-Nhã:

1. Tận hiến cho vinh quang Thiên Chúa, một Thiên Chúa luôn cao cả hơn, mà ta chẳng bao giờ có thể chúc tụng và phục sự đủ. Điều này khiến cho Giêsu hữu cảm thấy như có một sự lo toan thánh thiện, một nỗ lực không ngừng nghỉ đến làm tốt hơn, để hoàn thành nhiều hơn nữa, hay là “magis” như trong tiếng La-tinh. I-Nhã có thể được coi như một con người bị “nhiễm Chúa” theo nghĩa là ngài lấy “vinh quang lớn hơn của Chúa” làm tiêu chuẩn tối cao cho mọi công việc, dầu lớn hay nhỏ.

2. Một tình yêu thân thiết đối với Chúa Giêsu Kitô và một ước muốn được xếp vào hàng ngũ những bạn thân của Ngài. Trong Linh Thao, Giêsu hữu không ngừng cầu xin để hiểu biết Chúa Giêsu rõ ràng hơn, yêu mến Người nhiều hơn và bước theo Người gần kề hơn. Khi giảng dạy tại các thành phố ở Italia, các bạn hữu đầu tiên đã cố gắng bắt chước nếp sống của các môn đệ mà Chúa Giêsu đã sai đi loan báo Tin Mừng trong các thành phố ở Galilêa.

3. Hoạt động trong và cho Giáo Hội, bằng cách luôn đồng cảm với với Giáo Hội trong sự vâng phục các mục tử của Giáo Hội. Xuyên suốt qua các Hiến Pháp, I-Nhã nhấn mạnh đến việc dạy giáo lý “vững chắc hơn và được chấp thuận nhiều hơn” để cho các học viên có thể nhận một giáo thuyết “chắc chắn và bảo đảm hơn.”

4. Sự ứng trực luôn sẳn sàng để cho Giáo Hội định đoạt, sẳn sàng để làm việc bất cứ nơi nào, vì sự thiện lớn hơn và phổ cập hơn. Khi nhìn Dòng Tên như một đạo quân thiêng liêng của Đức Giáo Hoàng, thánh I-Nhã nhìn thấy toàn thể thế giới, một cách nào đó, như môi trường hoạt động của ngài. Được linh hướng bởi viễn tượng bao trùm vũ trụ, ngài không chấp nhận những sự phân loại dựa trên biên giới quốc gia hay liên hệ sắc tộc.

5. Sự hợp nhất hỗ tương. Giêsu hữu phải nhìn thấy chính mình như thành phần của một thân thể nối kết với nhau bởi sự hợp nhất trí tuệ và tâm hồn. Trong Hiến Pháp, thánh I-Nhã khẳng định rằng Dòng Tên không thể đạt mục tiêu của mình, nếu các phần tử không được nối kết bởi một tình yêu sâu xa giữa họ và với thủ lãnh. Trong lĩnh vực này, nhiều người trích dẫn thuật ngữ mà thánh I-Nhã dùng để chỉ các bạn đầu tiên: “những người bạn hữu trong Chúa.”

6. Ưu tiên cho thừa tác vụ thiêng liêng và tư tế. Dòng Tên là một dòng tư tế, mọi thành viên đại thệ phải được truyền chức linh mục, mặc dù sự cộng tác của các “trợ sĩ” linh vụ và thế vụ được đánh giá cao. Trong việc chọn lựa các thừa tác vụ, thánh I-Nhã viết: “sự thiện thiêng liêng phải được chuộng hơn sự thiện thể lý,” và chúng dẫn đến “mục đích cuối cùng và siêu nhiên” hơn.

7. Nhận định. I-Nhã là bậc thầy trong đời sống thực dụng và trong nghệ thuật quyết định. Ngài cẩn thận phân biệt giữa mục đích và phương tiện, bằng cách chọn lựa những phương tiện thích hợp nhất để đạt mục đích đang nhắm đến. Trong việc xử dụng các phương tiện ngài luôn áp dụng nguyên tắc: “tantum…quantum,” theo nghĩa: “bao lâu nó trợ giúp” chớ không hơn nữa. Trong bối cảnh này ngài dạy kỷ luật của sự “dửng dưng” (bình tâm – indifference) theo nghĩa siêu thoát khỏi bất cứ điều gì không được tìm kiếm vì chính nó.

8. Thích nghi, uyển chuyển. I-Nhã luôn cẩn thận chú ý đến thời gian, nơi chốn và con người mà ngài đang đối diện. Ngài lưu đến việc xếp đặt các lề luật tổng quát như thế nào để có thể cho phép sự uyển chuyển khi áp dụng.

9. Trân trọng khả năng nhân bản và tự nhiên. Mặc dù I-Nhã ưu tiên dựa trên các phương tiện thiêng liêng, như ân sủng thần linh, cầu nguyện và thừa tác vụ bí tích, nhưng ngài cũng chú trọng đến các tài năng tự nhiên, kiến thức, văn hoá và cách hành xử lịch sự như các tặng phẩm phải được sử dụng cho việc phụng sự và làm vinh danh Thiên Chúa. Vì lý do này, ngài bày tỏ một sự chú tâm đặc biệt đối với việc giáo dục.

10. Một tổng hợp độc đáo giữa đời sống hoạt động và chiêm niệm. Cha Jerome Nadal (1507-1580) nói đến thực hành của Giêsu hữu là “tìm kiếm sự hoàn thiện trong cầu nguyện và thao luyện thiêng liêng để giúp người thân cận, và bằng việc giúp họ này, thâu đạt toàn thiện hơn nữa trong cầu nguyện, để có thể giúp tha nhân nhiều hơn nữa.” Theo Nadal, đó là một ân sủng đặc biệt cho toàn Dòng Tên là chiêm niệm không chỉ trong những lúc cô tịch nhưng cả trong hoạt động, nhờ đó mà “tìm kiếm Thiên Chúa trong tất cả mọi sự.”

(Theo Hồng y Avery Dulles, S.J.)
Vũ, S.J.

Monday, October 31, 2011

St Alphonsus Rodríguez

Saint ALPHONSUS RODRÍGUEZ, Brother
October 31
Đọc Tiếng Việt:

http://www.bomjesu.org/images/Saints/st.alphonsus_rodriguez.jpg
Alonso (Alphonsus) Rodríguez was born in Segovia, Spain, July 25, 1533 (?). His first contact with the Society was when Peter Favre lodged with his family in 1541 and prepared the child Alonso for his first communion. Alonso was studying Latin in Alcalá when, on his father's death in 1546, he had to return and help run the family's wool and cloth business. He married around 1560, but his wife and their three children all died within 10 years. He sold his declining business and entered into a long period of depression over his various losses and failures. He gave himself to prayer and penance and sought direction from the Jesuits, newly arrived in Segovia.

Applying for admission to the Society in 1568, he was rejected because of his age, weakened health, and lack of education. He followed his spiritual director, Fr Luís Santander, to Valencia, where he began to study Latin so as to prepare for the priesthood. He again applied for admission in 1570. The Provincial of Aragón overrode the opinion of two of the examiners and admitted Alonso to the Society at Valencia as a brother on January 31, 1571. He was 37 years of age. He was sent to the new college of Montesión in Palma de Majorca that August and spent his remaining 46 years there mainly as doorkeeper until his death on October 31, 1617.

Whenever the doorbell rang, he would say, "Coming, Lord," receive the visitors graciously and go looking for the Father or student they wanted to meet. Many came to seek his wise advice. His humility, charity, obedience, and fervent devotion to our Lady were exemplary. He had a deep sense of his own sinfulness, which, far from being negative, led him to overcome whatever hindered encounter with God. The writings he left behind show that he was blessed with truly mystical graces.

He had a childlike simplicity in obeying difficult commands. The story has it that one day during the provincial's visitation, after the Scripture had been read in the dining room, the provincial said, "Brother Alphonsus, will you get up and give us a little sermon in Greek?" Nonplussed, Alphonsus ascended into the pulpit and repeated "Kyrie eleison, Christe eleison, Kyrie eleison" for a full minute until told to stop.

Though Alonso himself never left Spain, he greatly influenced the missionary vocation of a young student at Montesión named Peter Claver, who later became the Apostle of the Slaves in South America.

Alonso Rodríguez was beautified by Pope Leo XII on June 12, 1825 and canonized by Leo XIII on January 15, 1888, together with Peter Claver.

"The protection of so great a patron is most appropriate for helping us become 'thoroughly humble and prudent in Christ as well as conspicuous in the integrity of Christian life' (Exposcit debitum no. 9), as our Institute truly demands of us." (W. Ledochowski, AR II [1917], 394)
http://cache2.artprintimages.com/p/LRG/29/2947/4CMRD00Z/art-print/francisco-de-zurbaran-the-vision-of-st-alphonsus-rodriguez.jpg
********************************************

Thursday, October 13, 2011

St John Ogilvie

Saint JOHN OGILVIE, (1579 - 1615)
Priest, Martyr
October 14 (Jesuit liturgy)
March 10 (Roman Liturgy)
http://communio.stblogs.org/ogilvie2.jpg
John Ogilvie was born of noble Calvinist parents in 1579 in Drum-na-Keith, Scotland. In 1592 at the age of 12, he was sent to the European Continent to further his education. Only 4 years later, while studying at the Scots College in Louvain, he was received into the Catholic Church with the help of Fr Cornelius van de Steen (à Lapide) and began to study under the Jesuits of Louvain. However, the college had to close for lack of funds in 1598. John went first to the Scottish Benedictines in Ratisbon for 6 months and then to the Jesuit college in Moravia (eastern third of the present Czech Republic). Less than a year later this college was beset by the plague and had to move, but by then John had decided to enter the Society.

John entered the Austrian Province on November 5, 1599, and was sent to the novitiate in Moravia. After the usual studies he was ordained priest at Paris in 1610 and finally, after insistent pleading with his superiors and fully aware of the dangers involved, ha was able to return to his native country in 1613, disguised sometimes as a horse trader and sometimes as demobilized solder. His unfailing humor and creativeness stood him in good stead.

His ministry to Catholics in Edinburgh and other areas got off to a slow start. Even zealous Catholics were reluctant to harbor him, but at last, in the spring of 1614 three families received him and he was able to say Mass and preach and even made several visits to Edinburgh prisons to strengthen Catholics confined there. His work, however, was suddenly cut short when he was betrayed by a prospective convert to Catholicism and arrested in Glasgow on October 14, 1614.

During five months in prison, where he underwent detailed questioning and severe tortures (beatings, needles under his fingernails, deprivation of sleep for 9 days), he refused to divulge the names of Catholics who had sheltered him or attended his services. He wrote a record of his imprisonment and interrogations, which he managed to smuggle out of the prison.

Finally he was hanged as a traitor on March 10, 1615, the principal cause of his martyrdom being his continued insistence on the supremacy of Pope over King in spiritual matters. "In all that concerns the king," he said, "I will be lavishly obedient. In any attack on his temporal power, I will shed my last drop of blood for him. But in the things of spiritual jurisdiction which a king unjustly seizes I cannot and must not obey."

He was beautified by Pope Pius XI on December 22, 1929, and canonized by Pope Paul VI on October 17, 1976.

"May his intercession help us so that our Society, faithfully following the Ignatian charism, may be in the Church today, too, a true source of apostolic sanctity, while serving 'the Lord alone and the Church, his spouse, under the Roman pontiff, the vicar of Christ on earth.'" (P. Arrupe, AR XVI [1976], 907.

***************************************

BL John Beyzym

Blessed JOHN BEYZYM, Priest (1850 - 1912)
October. 12

Jan Beyzym (1850-1912)

Fr Jan (John) Beyzym is best known for his dedication to serving abandoned lepers in Madagascar. Born in what is now the Ukraine on May 15, 1850, he was the eldest of 5 children. On completing his secondary studies in Kiev, Jan thought of becoming a diocesan priest. His father suggested the Jesuits and even went all the way with him to see him off at the novitiate of Stara Wieś on December 11, 1872.

After first studies at Stava Wieś, Jan did regency in Ternopol (Ukraine) as prefect of resident students and teacher of music, then went to Kraków for theology and was ordained July 26, 1881. He taught French and Russian in Ternopol until 1887, when he was posted to Chirov to teach and to be in charge of the large school infirmary. The students loved him for his kindly solicitude and the captivating stories he could tell.

From his years as a young regent Fr Beyzym had been seized with a desire to work for lepers. In 1897, at the age of 48, he wrote about this to Fr General, and the next year he was assigned to Madagascar, where a few French Jesuits were working at two hospices for lepers. On arriving at the large of the two hospices, near the capital Tananarive, he found some 150 lepers living totally abandoned in a desert area, with insufficient food and no medical care. The first thing he did was to start living among them. He put his earlier infirmary experience to use cleaning and bandaging wounds. He repaired huts and provided food and clothing and water for bathing. He was called "father and mother of the lepers."

He quickly realized that a proper hospital was needed and got the approval of civil authorities, but lacked funds. He placed the whole project into the hands of Our Lady of Częstochowa and began writing to Polish missionary organizations and magazines, describing the misery of the disease and the plight of its victims. The response was surprising, bringing in enough donations to make the hospital possible.

In 1901 Jan chose to build in Marana, site of the smaller of the two hospices, near Fianarantsoa in the south, where there was water and arable land. He himself designed the hospital and supervised the building project, which began in 1903. Before long patients that could traverse the long mountainous roads from Tananarive arrived in Marana to rejoin Fr Beyzym, who welcomed them all warmly. After many setbacks the hospital, named after Our Lady of Częstochowa, finally opened on August 15, 1911.

Weakened by labors and austerities, he fell victim to a fever caused by an infection contracted from the lepers and died before long, on October 2, 1912. He and his helpers had laid solid foundations for continued work among the lepers of Madagascar.

Jan Beyzym was beautified by Pope John Paul II in Kraków on August 18, 2002.

"The life of our Polish confrère offers us a model of faith which brings about the Kingdom of love by serving our fellow humans who suffer from social ostracism no less than from physical maladies." (P-H. Kolvenbach, AR XXII [2002], 872.

+++++++++++++++++++++++++++++++


Another version from

****************************************

Thursday, October 6, 2011

Bl Diego de San Vitores (Oct. 6)

Blessed DIEGO DE SAN VITORES
Priest, Martyr
October 6

photo

Diego Luis de San Vitores, Apostle of the Marianas, was born of a noble family in Burgos, Spain, on November 12, 1627. On July 25, 1640, not yet 13 years old, he entered the Society after overcoming his family's opposition. (Originally named Diego Jerónimo, he renamed himself Diego Luis, after St Aloysius, whom he admired.)

Diego was ordained on December 23, 1651, and longed for the missions of China or Japan, but his first assignments were to teaching. In 1659 he was finally missioned abroad, but to the Philippines. He left Spain for Mexico City in 1660 and worked there in parishes, preaching in the streets and visiting hospitals until able to get a ship bound for the Philippines in 1662.

Arriving in Manila on July 10, he spent 3 months studying Tagalog, then served as novice master and later as dean of studies at the university, while also engaging in missionary work in outlying areas. His great desire, however, was to evangelize the Ladrones Islands ("Islands of Thieves"), where his ship had stopped off on its way to Manila. In 1664 he wrote a letter to King Philip IV of Spain encouraging the king to open a mission there. The king approved and Fr San Vitores was asked to head it.

In 1667 Diego first traveled back to Mexico City to receive the royal authorization and subsidy from the viceroy. Crossing the ocean again with 5 other Jesuits, ha landed on Guam June 16, 1668. (That year the islands were renamed the Marianas in honor of Queen Mariana of Austria, who sponsored the mission after Philip IV's death in 1665.)

Diego already knew the language, and a shipwrecked Spaniard who had been living on Guam for 30 years facilitated access to the chief of Agaña, where the Jesuits made their headquarters. The chief was one of his first converts and the mission flourished with 13,000 baptisms in 6 months. San Vitores also evangelized the large islands of Saipan and Tinian, while others went to the smaller islands.

In 1670, Fr Luis de Medina was killed on Saipan, the first Jesuit martyr of the Marianas. Fr San Vitores's turn came on April 2, 1672. On entering the village of Tumon with a lay companion, he heard cries of a newborn baby in the hut of Matapang, who had been one of his converts. When Diego offered to baptize the baby, Matapang threatened to kill him and went off to seek the help of a friend named Hirao. Meanwhile, the mother was afraid the baby might die, so Diego baptized it. On his return Matapang thrust a spear into the layman's chest, while Hirao split Diego's head down to neck with a cutlass. Both bodies were taken out by canoe and dumped into the sea.

Diego Luis de San Vitores was beautified by Pope John Paul II on October 6, 1985.

"He worked tirelessly at the first evangelization of the Marianas, undaunted by calamities and the violent deaths of some of his companions. As Superior he also gave himself unselfishly to taking care of the needs of his brothers and comforting them in the difficult situations in which they had to live." (P-H. Kolvenbach, AR XIX [1985] 320).


**********************************************************

Saturday, May 28, 2011

Tưởng niệm 20 năm, 6 giáo sĩ Dòng Tên bị thảm sát tại El Salvador

WASHINGTON, Sau 20 năm khi 6 vị giáo sĩ Dòng Tên cùng với một người giúp việc và con gái của bà đã bị thảm sát tại Đại Học Trung Mỹ ở El Salvador vào tháng 11 năm 1989, chính quyền Salvador, Quốc Hội Hoa Kỳ và Dòng Tên đã quyết định lễ tưởng niệm và tuyên dương 6 vị Giáo Sĩ Dòng Tên.



Tổng Thống Mauricio Funes của Salvador đã tuyên bố vào đầu tháng 11 năm 2000 là 6 vị giáo sĩ Dòng Tên sẽ được tuyên dương Huân Chương Quốc Gia Jose Matias Delgado là huân chương cao quý nhất của Salvador vào ngày 16/11 nhân ngày lễ giỗ 20 năm các ngài đã bị thảm sát tại Salvador.

Tổng Thống Funes nói rằng huân chương này được trao như là một “hành động chuộc lỗi công khai” vì lỗi lầm của chính quyền trong quá khứ’. Hai sĩ quan người Salavador đã bị tuyên án vào năm 1991 vì đã ra lệnh cho cuộc thảm sát trên.

Trong lúc Quốc Hội Hoa Kỳ đã thông qua để tuyên dương “tám người là các linh mục quảng đại, can đảm, tinh thần, là những nhà giáo dục và 2 phụ nữ” và khẩn khoản “nhân dân Hoa Kỳ, các cơ cấu giáo dục, các hội dòng hãy tham dự lễ giỗ tại địa phương, trong nước và hải ngoại”

Những buổi lễ giỗ! đã được lên chương trình trong tháng 11 tại 28 trường học, cao đẳng và đại học ở Hoa Kỳ và tại những nơi khác trên thế giới.

8 người đã bị thảm sáng vào rạng sáng ngày 16/11/1989 gồm có:

- Linh Mục Dòng Tên Ignacio Ellacuria, 59 tuổi, viện trưởng Đại Học Trung Mỹ

- Linh Mục Dòng Tên Igancio Marin-Baro, 44 tuổi phó viện trưởng và là giám đốc học viện góp ý cộng đồng của đại học

- Linh Mục Dòng Tên Segundo Montes, 56 tuổi, khoa trưởng khoa xã hội học và là giảng sư xã hội học.

- Linh Mục Dòng Tên Amando Lopez, 53 tuổi, giảng sư triết lý và thần học.

- Linh Mục Dòng Tên Juan Ramon Moreno, 56 tuổi, giảng sư thần học.

- Linh Mục Dòng Tên Joaquin Lopez y Lopez, 71 tuổi, vị sáng lập và Giám Đốc cơ quan Fe y Alegria (Đức Tin và Hy Vọng}, là cơ quan đã mở ra 30 trung tâm giáo dục dành cho những người bất hạnh trên toàn đất nước Salvador

- Bà Elba Ramos, người nấu ăn và giúp việc cho các tu sinh Dòng Tên tại Đại Học.

- Cô Celina Marise, 16 tuổi con gái của Bà Ramo.


Vào cuối tháng 10, lưỡng viện quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua nghị quyết nói rằng các tu sĩ Dòng Tên đã "cống hiến đời mình cho việc thăng tiến giáo dục tại El Sallvador, bảo vệ và cổ võ nhân quyền, chấm dứt các tranh chấp, và nhận định, đưa ra những vấn đề kinh tế và xã hội đã ảnh hưởng đến đa số dân cư Salvador"

Bản nghị quyết cũng nhấn mạnh rằng "Quốc tề và dân Salvador đã lên án mãnh liệt đến vụ thảm sát 6 tu sĩ Dòng Tên cùng 2 phụ nữ và những vụ điều tra tiếp theo được coi như là chất xúc tác cho việc điều đình và góp phần mở đường cho bản hòa ước hòa bình được ký kết vào năm 1992. Nhờ bản hòa ước này mà chính quyền và cư dân El Salvador đã thành đạt dược những tiến triển nổi bật xây dựng và củng cố những cơ cấu dân chủ cho nền chính trị, kính tế và xã hội".

Thế nhưng, bản nghị quyết cũng nêu lên rằng "những gian khổ về mặt xã hội và kinh tế trong nhiều lãnh vực vẫn còn tồn tại trong xã hội Salvador"

Bản nghị quyết khẩn khoản các cơ quan Hoa Kỳ tiếp tục "nâng đỡ và hợp tác với chính quyền El Salvador và các tổ chức công cộng, tư nhân và phi chính phủ trong nỗ lực xóa đói giảm nghèo và cổ võ cơ hội về giáo dục, nhân quyền, luật lệ bình đảng về tư pháp và xã hội cho nhân dân El Salvador".

Các Đại Học Dòng Tên và Công Giáo tại Hoa Kỳ đã lên kế hoạch cho những sinh hoạt khác nhau trong dịp lễ giỗ.

Mhững biến cố sẽ được tổ chức tại Đại Học Xavier ở Cincinnati bao gồm bữa ăn miễn phí cho những người tham dự các cuộc diễn hành và canh thức tưởng nhớ đến 6 vị Dòng Tên vào ngày 14/11; những Thánh Lễ đặc biệt, các cuộc triễn lãm và chiếu phim; một buổi canh thức và diễn hành tại khuôn viên đại học vào ngày 19/11.

Đại Học Santa Clara tại bang California sẽ bảo trợ một chuỗi các biến cố được tổ chức trong suốt tháng 11, bao gồm buổi nói chuyện của Linh Mục Dòng Tên Jon Sobrino, người đồng sáng lập Đại Học Trung Mỹ và cũng là người may mắn thoát chết vì Cha đã vắng nhà trong ngày thảm sát.

Cha Sobrino cũng sẽ chia sẽ trong một buổi hội thảo tại Đại Học Boston vào ngày 30/11 cùng với sử gia Noam Chomsky và Linh Mục Dòng Tên J. Donald Monan, chưởng ấn đại học, trên tiêu đề: "Ký Ức và Sức Mạnh của nó: Các Vị Tử Đạo tại El Salvador".

Cha Dòng Tên Monan cũng là viện trưởng Đại Học Boston vào lúc 6 vị Dòng Tên bị thảm sát, và là một trong số các Linh Mục Dòng Tên đã viếng thăm hiện trường sau khi vụ thảm sát đã xảy ra.

Chính Cha J. Donald Monan cũng là người điều phối chương trình vào ngày 4/11 trong buổi hội thảo với sự có mặt của Linh Mục Dòng Tên Rodolfo Cardenal, cựu phó viện trưởng Đại Học Trung Mỹ, nghị sĩ James McGovern tại D-Mass., cũng là người cùng với cố nghị sĩ Joseph Moakley tại D-Mass, đã giúp hoàn chỉnh lại chính sách Hoa Kỳ đối với El Salvador

Nghị sĩ McGovern đã nói trong bản thông tư "Lễ giỗ 20 năm các Linh Mục Dòng Tên bị thảm sát … chắc chắn là thời gian đau buồn và ngẫm suy. Nhưng nó cũng là một cơ hội để chính chúng ta tự cống hiến cho những nguyên tác công lý xã hội và hòa bình, theo đó các ngài đã cống hiến cuộc đời và công việc mục vụ của mình".


Ngọc Loan

Friday, April 29, 2011

Bài diễn từ của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI trong buổi tiếp kiến các Đại Biểu tham dự Tổng Hội 35 Dòng Tên ngày 21.02.2008

Quí Cha tham dự Tổng Hội Dòng Tên thân mến,

Tôi rất vui mừng được đón tiếp quí cha ngày hôm nay khi các công việc bận rộn của quí cha đang đi vào giai đoạn kết thúc. Tôi xin cám ơn cha Bề Trên Cả mới, cha Adolfo Nicolas, đã làm phát ngôn viên chuyển đạt tình cảm và sự dấn thân của quí cha, đáp ứng các mong đợi mà Giáo Hội đặt để nơi quí cha. Tôi đã nói về các mong đợi đó trong sứ điệp gởi cho cha Kolvenbach và – qua ngài – cho toàn thể quí cha khi Tổng Hội mới khai mạc. Một lần nữa, tôi xin cám ơn cha Peter-Hans Kolvenbach vì quá trình phục vụ quí báu của ngài trải dài gần một phần tư thế kỷ trong vai trò lãnh đạo Dòng. Tôi cũng gởi lời chào tới các thành viên mới của Ban Tổng Cố Vấn và các vị Phụ Tá, những người sẽ giúp đỡ cha Bề Trên Cả trong trách nhiệm hết sức tinh tế của ngài là định hướng đời tu và tông đồ của toàn Dòng.

Tổng Hội của quí cha diễn ra trong một giai đoạn có nhiều biến động lớn về xã hội, kinh tế, chính trị; nhiều vấn đề nổi cộm về luân lý, văn hoá và môi trường; nhiều loại xung đột; mà cũng có nhiều giao lưu truyền thông sâu rộng giữa các dân tộc; nhiều khả thể mới về tri thức và đối thoại; nhiều khát vọng sâu xa hướng về hoà bình. Những tình huống đó mời gọi toàn thể Giáo Hội Công Giáo vận dụng hết khả năng của mình để loan báo cho người đương thời Lời của hy vọng và cứu độ. Vì thế, tôi nhiệt liệt cầu chúc toàn thể Dòng Tên, nhờ các kết quả của Tổng Hội, có thể sống sứ mạng của mình với một sức bật và nhiệt huyết mới. Chính vì sứ mạng đó mà Thần Khí đã khơi dậy Dòng Tên trong Giáo Hội và trong suốt hơn bốn thế kỷ rưỡi, đã bảo tồn Dòng Tên với một sự phong phú lạ thường của các hoa trái tông đồ. Hôm nay, tôi muốn khuyến khích quí cha và các anh em của quí cha hãy tiếp tục bước đi trên con đường sứ mạng này, trung thành trọn vẹn với đặc sủng ban đầu, trong bối cảnh giáo hội và xã hội đặc thù của thời kỳ đầu thiên niên kỷ này. Như các vị tiền nhiệm của tôi đã nói với quí cha nhiều lần, Giáo Hội rất cần quí cha, trông chờ vào quí cha, và tiếp tục hướng về quí cha với lòng tin tưởng, đặt biệt là để vươn đến những lãnh vực thể lý và thiêng liêng, nơi mà những người khác không đến hoặc khó mà đến được. Những lời của ĐGH Phao-lô VI đã được khắc ghi vào tâm huyết của quí cha: “Ở bất cứ nơi nào trong Giáo Hội, ngay cả những nơi khó khăn và nhạy cảm nhất, ở những giao lộ của ý thức hệ, ở những tuyến đầu của xã hội, ở những nơi đã và đang có sự đối kháng giữa những nhu cầu bức thiết của con người và sứ điệp ngàn đời của Tin Mừng, ở đó đã và đang có các Giêsu-hữu” (3.12.1974, nói với Tổng Hội 32).

Như Bản Định Thức nói, Dòng Tên được thiết lập chủ yếu “là để bảo vệ và truyền bá đức tin”. Vào thời mà các chân trời địa lý mới đang được khám phá, các bạn đường đầu tiên của I-Nhã đã đặt mình dưới sự sai khiến của Đức Giáo Hoàng chính là để “Ngài sai họ đi đến bất cứ nơi nào Ngài xét thấy vinh danh Chúa và mưu ích cho các linh hồn nhiều hơn” (Tự Thuật, số 85). Như thế, họ đã được sai đi rao giảng về Chúa cho các dân tộc và các nền văn hoá chưa biết Ngài là ai. Họ làm điều đó với một lòng dũng cảm và nhiệt tâm vốn trở thành gương mẫu và hứng khởi suốt cho tới thời đại chúng ta: tên của thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê đã trở thành tên tuổi lẫy lừng nhất, nhưng còn tất cả các vị khác, họ đã làm được biết bao nhiêu điều! Ngày nay, còn nhiều dân tộc chưa biết Chúa, hoặc biết Ngài cách sai lạc, nên không nhận ra Ngài là Đấng Cứu Thế. Các dân tộc đó không ở xa chúng ta về mặt địa lý cho bằng về mặt văn hoá. Trở ngại và thách thức đối với người loan báo Tin Mừng ngày nay không còn là các đại dương hoặc các khoảng cách xa xôi, mà là các giới tuyến vốn vì một cái nhìn sai lạc hoặc hời hợt về Thiên Chúa và về con người mà tách biệt đức tin với tri thức nhân loại, đức tin với khoa học hiện đại, đức tin với sự dấn thân cho công bình.

Vì thế, Giáo Hội rất cần những con người có một đức tin vững chắc và sâu xa, một văn hoá nghiêm túc và một sự nhạy bén chân chính về nhân bản và xã hội. Giáo Hội cần những tu sĩ và linh mục hiến dâng đời mình, đứng vào chính những giới tuyến đó để làm chứng và giúp người ta hiểu rằng thực ra có một sự hài hoà sâu xa giữa đức tin và lý trí, giữa tinh thần Tin Mừng, khát vọng công lý và thực thi hoà bình. Chỉ như thế, khuôn mặt đích thực của Chúa, vốn còn bị ẩn giấu và chưa được nhiều người thời nay nhận ra, mới có thể được tỏ lộ cho họ. Vì thế, Dòng Tên cần phải dấn thân cách ưu tiên cho công việc này. Trung thành với truyền thống ưu việt của mình, Dòng cần phải tiếp tục chăm chú huấn luyện các thành viên của mình trong khoa học và trong nhân đức, không tự hài lòng với mức tầm thường nửa vời. Bởi lẽ nhiệm vụ giáp mặt và đối thoại với những bối cảnh xã hội văn hoá đa dạng và với những não trạng khác nhau của thế giới ngày nay là một trong những nhiệm vụ khó khăn và nặng nhọc nhất. Và việc đi tìm phẩm chất và sự vững chãi nhân bản, thiêng liêng và văn hoá này phải là đặc điểm nổi bật của toàn hoạt động huấn luyện và giáo dục đa dạng của các tu sĩ Dòng Tên, hướng đến những loại người khác nhau mà họ gặp gỡ.

Trong lịch sử của mình, Dòng Tên đã sống những kinh nghiệm xuất chúng trong việc loan báo và nối kết Tin Mừng với các nền văn hoá của thế giới – chỉ cần nghĩ đến Matthêô Ricci ở Trung Quốc, Roberto De Nobili ở Ấn độ, hay những “khu dân cư tự trị” ở Châu Mỹ La-tinh – quí cha thật đáng tự hào về những điều đó. Hôm nay, tôi cảm thấy cần khuyến khích quí cha tiếp tục bước theo dấu chân của các bậc tiền nhân, với cùng một lòng dũng cảm và trí thông minh như thế, nhưng cũng với cùng một động lực đức tin sâu xa và nhiệt tâm phục vụ Chúa và Giáo Hội của Ngài như thế. Tuy nhiên, trong khi quí cha tìm cách nhận ra các dấu chỉ của sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa ở mọi nơi trên thế giới, ngay cả bên ngoài ranh giới của Giáo Hội hữu hình, trong khi quí cha nỗ lực xây những cầu nối của cảm thông và đối thoại với những người không thuộc về Giáo Hội hay cảm thấy khó có thể chấp nhận được các quan điểm và sứ điệp của Giáo Hội, thì đồng thời quí cha cũng cần phải nhận lấy trách nhiệm nền tảng của Giáo Hội là trung thành với lệnh truyền phải hoàn toàn phục tùng Lời Chúa, quí cha cũng phải nhận lấy bổn phận của Huấn Quyền là bảo tồn chân lý và tính nhất quán của toàn bộ đạo lý công giáo. Đây không chỉ là trách nhiệm cá nhân của mỗi Giêsu-hữu: bởi vì khi quí cha hoạt động với tư cách là thành viên của một thân thể tông đồ, quí cha cũng phải lưu tâm làm sao cho các công việc và thể chế của quí cha luôn bảo toàn một căn tính sáng sủa và rõ ràng, sao cho mục đích của hoạt động tông đồ của quí cha không trở nên hàm hồ hoặc mờ tối, và sao cho nhiều người có thể chia sẻ cùng một lý tưởng với quí cha và cùng cộng tác với quí cha một cách hiệu quả và đầy nhiệt huyết vào công cuộc phục vụ Thiên Chúa và con người.

Như quí cha đã biết rất rõ, vì đã chiêm niệm nhiều lần bài “Hai Cờ Hiệu” trong Linh Thao của Thánh I-Nhã, thế giới của chúng ta là sân khấu của một cuộc chiến giữa cái tốt và cái xấu. Có những thế lực tiêu cực đang hoạt động, gây ra những tình huống bi kịch, đẩy đưa anh chị em chúng ta vào vòng nô lệ thiêng liêng và vật chất. Quí cha đã nhiều lần tuyên chiến chống lại các thế lực đó bằng cách dấn thân vào hoạt động phục vụ đức tin và thăng tiến công bình. Ngày nay, các thế lực đó thể hiện dưới nhiều hình thức, mà đặc biệt là ngang qua những khuynh hướng văn hoá đang ngày càng thống lĩnh: duy chủ quan, chủ nghĩa tương đối, duy khoái lạc, duy vật thực hành. Vì thế, tôi đã xin quí cha hãy tiếp tục dấn thân vào việc thăng tiến và bảo vệ đạo lý công giáo “đặc biệt là những điểm nhức nhối ngày nay đang bị văn hoá thế tục công kích mạnh mẽ”. Tôi đã nêu ra vài điểm nhức nhối đó trong Lá Thư tôi gởi Tổng Hội. Những chủ đề như ơn cứu độ của tất cả mọi người nơi Đức Kitô, luân lý tính dục, hôn nhân và gia đình vẫn đang tiếp tục được tranh cãi và đặt thành vấn đề. Những chủ đề đó cần phải được đào sâu và soi sáng trong bối cảnh thực tại đương thời, nhưng luôn giữ được sự hài hoà với Giáo Quyền, tránh gây ra xáo trộn và bối rối trong cộng đồng Dân Chúa.

Tôi biết và hiểu rằng đây là một điểm đặc biệt tế nhị và khó khăn đối với quí cha và anh em của quí cha, đặc biệt là những hoạt động trong nghiên cứu thần học, đối thoại liên tôn và đối thoại với các nền văn hoá đương thời. Nhưng chính vì sứ mạng đặc thù này mà tôi đã mời gọi và đang mời gọi quí cha ngày hôm nay, hãy suy nghĩ để tìm ra ý nghĩa trọn vẹn hơn của “lời khấn thứ tư” đặc thù của quí cha là vâng phục Đấng Kế Vị Phê-rô. Lời khấn đó không chỉ liên quan đến việc sẵn sàng được sai đi trong sứ mạng tại những miền đất xa xôi, mà còn – trong tinh thần chính thực của thánh I-Nhã “đồng cảm với Giáo Hội và trong Giáo Hội” – liên quan đến việc “yêu mến và phục vụ” Đấng Đại Diện Đức Kitô trên trần gian với một lòng quý trọng “thiết thực và trìu mến”. Lòng quý trọng đó làm cho quí cha trở thành những cộng tác viên quí giá và không thể thay thế được của Đấng Đại Diện Đức Kitô trong sứ mạng phục vụ Giáo Hội hoàn vũ của Ngài.

Đồng thời tôi cũng khuyến khích quí cha tiếp tục và canh tân sứ mạng của quí cha giữa người nghèo và với người nghèo. Đáng tiếc là vẫn không thiếu những nguyên nhân mới xuất hiện, gây ra đói nghèo và tha hoá trong một thế giới mang nặng những bất bình đẳng sâu xa về kinh tế và môi trường, những tiến trình toàn cầu hoá được thúc đẩy bởi lòng ích kỷ hơn là bởi tình liên đới, những xung đột vũ trang khốc liệt và vô lý. Như tôi đã khẳng định với các Giám Mục Châu Mỹ La-tinh họp mặt tại Đền thánh Aparecida, “việc lựa chọn ưu tiên cho người nghèo có sẵn trong niềm tin kitô giáo vào một Thiên Chúa, Đấng đã vì ta mà trở nên nghèo khó, để làm cho ta trở nên giàu có nờ sự nghèo khó của Ngài (2Cor 8,9)”. Vì thế, điều dễ hiểu là ai muốn trở nên bạn đường đích thực của Đức Giêsu thì cũng chia sẻ thực sự tình yêu thương người nghèo của Ngài. Đối với chúng ta, lựa chọn người nghèo không phải là một ý thức hệ, mà phát sinh từ Tin Mừng. Trong thế giới ngày nay, còn vô số tình huống bi thảm của bất công và nghèo khổ. Và nếu chúng ta cần phải dấn thân để hiểu và chống lại các cơ cấu gây ra chúng, thì chúng ta cũng cần phải biết đi vào tận trái tim của con người để chống lại các gốc rễ thâm sâu của sự ác và của tội lỗi là cái tách lìa con người khỏi Thiên Chúa. Chúng ta cần làm điều đó trong khi không quên đáp ứng các nhu cầu khẩn thiết nhất của anh chị em trong tinh thần bác ái của Đức Kitô. Tiếp nhận và phát huy một trong những trực giác sâu rộng vào lúc cuối đời của cha Arrupe, Dòng của quí cha tiếp tục dấn thấn một cách xứng đáng vào việc phục vụ người tị nạn. Họ thường là những người nghèo nhất giữa những người nghèo, họ không chỉ cần những viện trợ khẩn cấp về vật chất, mà còn cần sự đồng hành gần gũi và sâu xa về mặt thiêng liêng, nhân bản và tâm lý vốn là những công việc đặc thù chuyên môn của quí cha.

Cuối cùng tôi xin quí cha chú ý đặc biệt đến sứ vụ giúp Linh Thao vốn từ ban đầu đã là đặc điểm của Hội Dòng. Những bài Linh Thao là nguồn của linh đạo và là khung sườn của Hiến Luật của quí cha, nhưng cũng là quà tặng của Thần Khí Chúa ban cho toàn thể Giáo Hội: quí cha phải tiếp tục làm cho Linh Thao trở thành khí cụ quí báu và hiệu quả cho việc thăng tiến thiêng liêng của các linh hồn, cho việc đưa dẫn họ vào cầu nguyện và chiêm niệm trong thế giới trần tục hoá này, nơi mà Thiên Chúa dường như vắng mặt. Mới tuần trước đây thôi, chính tôi đã được làm Linh Thao, cùng với những cộng sự viên gần gũi nhất của tôi trong Giáo Triều Rô-ma, dưới sự hướng dẫn của một người anh em đáng kính của quí cha, Hồng Y Albert Vanhoye. Vào thời buổi này, sự mông lung rối loạn, việc người nói thế này người nói thế kia, và các thay đổi nhanh chóng đã làm cho anh chị em đương thời của chúng ta rất khó có thể thiết lập một trật tự cho đời sống của mình và đáp trả một cách xác quyết và vui vẻ lời mời gọi của Chúa. Chính Linh Thao đã vạch ra một con đường và một phương pháp đặc biệt quí báu để tìm kiếm Thiên Chúa, ngay trong ta, xung quanh ta và trong mọi sự để nhận ra ý Ngài và đem ra thực hành.

Cũng trong tinh thần này, tinh thần của sự vâng phục ý Chúa, vâng phục Đức Kitô, vốn cũng là sự vâng phục khiêm tốn đối với Giáo Hội, tôi mời gọi quí cha hãy tiếp tục và hãy hoàn thành các công việc của Tổng Hội. Và tôi xin hiệp thông với quí cha trong lời kinh mà thánh I-Nhã đã dạy chúng ta ở cuối các bài Linh Thao – lời kinh này đối với tôi luôn quá lớn lao, đến nỗi dường như tôi không dám đọc, nhưng tuy nhiên, chúng ta luôn phải lấy lại can đảm mà đọc: “Lạy Chúa, xin nhận lấy trọn cả tự do, trí nhớ, trí hiểu, và toàn thể ý muốn của con, cùng tất cả những gì thuộc về con; mọi sự ấy, Chúa đã ban cho con, Lạy Chúa, nay con xin dâng lại cho Chúa; tất cả là của Chúa, xin hãy sử dụng hoàn toàn theo ý Chúa; chỉ xin ban cho con tình yêu và ân sủng Chúa; thế là đủ cho con” (LT 234).

(Bản dịch Việt Ngữ từ nguyên bản tiếng Ý của Linh mục Nguyễn Hai Tính, S.J.)

Thursday, April 28, 2011

Diễn Văn của Cha Bề Trên Cả Adolfo Nicolas, S.J. Chào Mừng Đức Thánh Cha

Trọng kính Cha rất diễm phúc,

Tân Bề trên Dòng Tên Cha Aldolfo NicolasLời đầu tiên con muốn nói lên, nhân danh bản thân con và nhân danh tất cả những anh em của con đang hiện diện nơi đây, là lời “cám ơn” nồng nhiệt tới Đức Thánh Cha. Hôm nay, Ngài đã tiếp kiến nồng hậu các đại biểu của Tổng Hội họp mặt ở Rôma, sau khi đã gởi cho họ một món quà quí giá là Lá Thư gởi Tổng Hội. Lá thư này, với nội dung cao quí và giọng văn tích cực, khích lệ và thân ái, chắc chắn đã được toàn thể Dòng chúng con trân trọng đón nhận.



Vâng, với lòng biết ơn và một cảm nghiệm hiệp thông mạnh mẽ, chúng con cảm thấy mình được cổ võ và xác tín hơn trong sứ mạng hoạt động trên các làn ranh tách biệt đức tin và khoa học, đức tin và công lý, đức tin và tri thức, cũng như trong lãnh vực đầy công phu của việc suy tư và nghiên cứu thần học cách nghiêm túc với tinh thần trách nhiệm. Chúng con rất biết ơn Đức Thánh Cha đã khuyến khích chúng con thêm một lần nữa trong việc bước theo truyền thống I-nhã, phục vụ ở chính những nơi mà Tin Mừng và Giáo Hội đang chịu những thách đố lớn nhất. Sứ mạng đó đôi khi đòi hỏi chúng con phải liều mình đánh mất sự yên tĩnh, danh dự và an toàn của chính bản thân. Chúng con được an ủi rất nhiều khi biết chắc rằng Đức Thánh Cha thấu hiểu những nguy hiểm có thể xảy ra cho chúng con trong sứ mạng đó.

Trọng kính Đức Thánh Cha, con muốn trở lại với Lá Thư tốt lành và quảng đại mà Ngài đã gởi cho vị tiền nhiệm của con, cha Kolvenbach, và qua ngài, gửi đến tất cả chúng con. Chúng con đã tiếp nhận lá thư đó với tất cả tấm lòng rộng mở, chúng con đã chiêm niệm, đã suy tư về lá thư này, đã trao đổi những suy tư của chúng con với nhau, và chúng con đã quyết định chuyển sứ điệp và việc đón nhận lá thư ấy cách vô điều kiện đến toàn thể Dòng Tên.

Chúng con cũng muốn đem tinh thần của sứ điệp này đến tất cả các cơ cấu huấn luyện và – khởi đi từ sứ điệp đó – tạo ra các cơ hội để suy gẫm và trao đổi. Tất cả nhằm để giúp các anh em chúng con đang dấn thân trong nghiên cứu và trong phục vụ.

Tổng Hội của chúng con, mà Đức Thánh Cha đã luôn bày tỏ sự khuyến khích thân thương, đang tìm kiếm, trong cầu nguyện và nhận định, những đường hướng cho một cuộc tái thiết sự dấn thân của Dòng vào việc phục vụ Giáo Hội và nhân loại.

Điều gợi hứng và thúc đẩy chúng con chính là Tin Mừng và Thần Khí của Đức Kitô: nếu Đức Giêsu Kitô không ở trung tâm của đời sống chúng con, thì không hoạt động tông đồ nào của chúng con sẽ có ý nghĩa nữa, chúng con sẽ không còn lý do để tồn tại nữa. Từ Đức Giêsu Kitô, chúng con học được một điều là chúng con phải đến gần với người nghèo, người đau khổ, và người bị loại trừ của thế giới này.

Linh đạo của Dòng Tên bắt nguồn từ Linh Thao của thánh I-Nhã. Và chính dưới ánh sáng của Linh Thao – vốn đã gợi hứng cho Hiến Luật của Dòng – mà Tổng Hội đã khảo sát trong những ngày này các chủ đề về căn tính và sứ mạng của chúng con. Trước khi là một khí cụ tông đồ quí giá, Linh Thao là viên đá nền tảng, là tiêu chuẩn để đo lường sự trưởng thành thiêng liêng của người Giêsu-hữu.

Hiệp thông với Giáo Hội và dưới sự dẫn dắt của Huấn Quyền, chúng con tìm cách cống hiến đời mình cách sâu xa vào việc phục vụ, nhận định và nghiên cứu. Sự quảng đại của nhiều Giêsu-hữu làm việc cho Nước Chúa, ngay cả đến mức hiến mạng sống mình cho Giáo Hội, không làm vơi đi cảm thức trách nhiệm mà Dòng có đối với Giáo Hội. Tinh thần trách nhiệm mà Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh trong Lá Thư, khi khẳng định rằng: “Công cuộc rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội trông chờ rất nhiều vào tinh thần trách nhiệm huấn luyện của Dòng trong các lãnh vực thần học, thiêng liêng và sứ mạng”.

Cùng với tinh thần trách nhiệm, chúng con cũng thấy cần khiêm tốn nhìn nhận rằng mầu nhiệm về Thiên Chúa và về con người cao cả hơn khả năng hiểu biết của chúng con rất nhiều.

Chúng con rất buồn, thưa Đức Thánh Cha, khi những thiếu sót và hời hợt không thể tránh khỏi của một số anh em chúng con đôi khi được dùng để bi kịch hoá và được trình bày như là những mâu thuẫn và đối kháng; trong khi đó thường chỉ là biểu hiện của những giới hạn và bất toàn của con người, hoặc chỉ là những căng thẳng không thể tránh khỏi của đời sống thường nhật. Nhưng tất cả những điều đó không làm cho chúng con nản chí, cũng không làm vơi đi nhiệt huyết của chúng con, không chỉ để phục vụ Giáo Hội, mà còn để yêu thương Giáo Hội phẩm trật và Đức Thánh Cha, Đại Diện của Đức Kitô, một cách triệt để hơn nữa, theo tinh thần và truyền thống I-nhã,

“Yêu mến và phục vụ trong mọi sự”. Đó là bức chân dung của thánh I-Nhã. Đây là tấm thẻ xác định căn tính của một Giêsu-hữu đích thực. Và giờ đây, thưa Đức Thánh Cha, chúng con chú tâm, sẵn sàng và ước ao được lắng nghe lời của Ngài.

(Bản dịch Việt Ngữ từ nguyên bản tiếng Ý của Linh mục Nguyễn Hai Tính, S.J.)

Wednesday, March 16, 2011

Dòng Tên và thần học

Dòng Tên và thần học
Karl Rahner, S.J.

  • Bài viết nhỏ này được đăng bằng nhiều thứ tiếng trong Kỷ Yếu Dòng Tên năm 1980, trong đó Cha Rahner bàn về việc nghiên cứu thần học trong Dòng Tên với tựa là "Zur Frage Gesellschaft Jesu und Theologie" (Về vấn đề Dòng Tên và thần học). Dịch từ tiếng Đức theo: Karl Rahner, "Eine Seite von Karl Rahner" in Sämtliche Werke, Bd. 25, Herder, Freiburg, 330-331.

Có người yêu cầu tôi, dựa vào kinh nghiệm thâm niên của mình, nói về mối liên hệ giữa Dòng Tên Chúa Giêsu và thần học trong bối cảnh hôm nay. Trong khi hoàn toàn ý thức về tính chủ quan và những kinh nghiệm còn giới hạn, tôi vẫn cảm thấy mình có thể đại diện chút nào đó cho các thần học gia Giêsu hữu khác đang nghiên cứu thần học xét như một khoa học. Tôi không thể kể hết tên họ được, và nếu có ghi ra đây vài tên tuổi thì chọn lựa này chỉ là chủ quan và ngẫu nhiên mà thôi. Tuy nhiên, những con người như Henri de Lubac, Henri Bouillard, Juan Alfaro, Alois Grillmeier, Stanislas Lyonnet, Piet Schoonenberg (đây là tên của những vị còn ở với chúng ta) là một số trong biết bao nhà thần học đã góp phần định hình nền thần học hôm nay. Tôi tin là tất cả các vị ấy đón nhận công việc nghiên cứu thần học của họ như một phần trong sứ mạng mà Dòng Tên coi như phục vụ việc loan báo Tin Mừng.

Đối với một nhà thần học Dòng Tên, nghiên cứu thần học không phải là một dạng “nghệ thuật vị nghệ thuật”, cho bằng phục vụ cho việc công bố mặc khải của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô, vì phần rỗi loài người. Tuy nhiên, về cơ bản, đặt đích nhắm như trên không có nghĩa là có một mối đe dọa đối với việc tìm kiếm chính chân lý, bởi suy cho cùng, chỉ có việc tìm chân lý mới có thể thực sự phục vụ việc loan báo Tin Mừng. Nhưng chúng ta không thể chối bỏ sự kiện là chúng tôi, những nhà thần học trong Dòng Tên, liên tục bị đe dọa bởi hai mối nguy mà không phải lúc nào chúng tôi cũng thoát khỏi: một đàng là nguy cơ rơi vào một khoa hộ giáo thiển cận, đàng khác là nguy cơ lãng quên con người, ơn cứu độ của họ và những sứ mạng rất cụ thể của Giáo Hội vì chỉ chúi mũi vào khía cạnh khoa học thuần túy.

Khởi đi từ bản chất thiết yếu của khoa thần học mà đích nhắm là phục vụ ơn cứu độ con người, thần học phải thiết lập một một tương quan khả tri giữa mình với Giáo Hội phẩm trật và Huấn Quyền. Thần học của các Giêsu hữu được dùng để phục vụ Giáo Hội, Đức Thánh Cha và các Đức Giám Mục và coi giáo huấn của Giáo Hội như là chuẩn mực không thể bãi miễn. Nhưng thần học ấy chỉ có thể thực hiện một cách trọn vẹn và chân chính sự phục vụ vừa nói, khi lối suy tư của thần học ấy (mà không gì khác hơn là chính nhiệm vụ tự thân của nó!) được đổ nền trên sự đối thoại sinh động, can đảm, không thành kiến với não trạng và khoa học "đời" trong thời đại chúng ta.

Nếu thần học của các Giêsu hữu, - nhất là nhằm phục vụ việc rao giảng sự điên rồ của Thập Giá, đang ra sức mang dáng vóc của một thần học hiện đại, bằng một cách nghĩ không vướng tiền kiến, thì điều không thể tránh là đây đó hay trong một mức độ nào đó, nó có thể xung đột với Huấn Quyền của Giáo Hội. Lịch sử thần học của các Giêsu hữu, bắt đầu từ Francisco Suárez đến nay đã cho thấy điều ấy. Những xung đột như vậy có thể lớn, nhỏ hoặc vô hại. Những xung đột ấy chỉ có thể vượt qua được trong đức vâng phục đối với Huấn Quyền (theo mức độ ràng buộc trong các tuyên bố của Huấn Quyền), trong thái độ nhẫn nại và thành thật. Về điều này, các nhà thần học Dòng Tên hiện nay có một mẫu gương đáng noi là chính Đấng Sáng Lập Dòng của họ.

Tới đây, thật khó lòng đi xa hơn nếu không tự hỏi liệu còn hay không và trong mức độ nào mà thần học của các cha Dòng Tên hiện nay gìn giữ sự liên tục nội tại với thần học của Dòng trong quá khứ. Liệu còn hay không và bằng cách nào mà thần học của Dòng, dù cho phải có những thay đổi cần thiết, tiếp tục có một nét riêng trong toàn cục thần học công giáo nói chung hay không (dẫu rằng ngày nay, chúng ta khó lòng nói đến một “trường phái Dòng Tên” như trong giai đoạn thế kỷ XVI-XVIII). Hay liệu còn hay không và cho đến mức độ nào mà nền thần học ấy thực sự chu toàn sứ mạng hiện nay, hoặc ở nơi này nơi kia, nó đã rút lui khỏi sứ mạng của mình mất rồi. Dù gì đi nữa, chúng tôi, những nhà thần học Dòng Tên, có thể nói rằng : “Chúng tôi chỉ có thể là những nhà thần học giỏi khi chúng tôi là các Giêsu hữu tốt, và chỉ khi chúng tôi thực sự là những nhà thần học giỏi thì chúng tôi mới đóng góp vào việc chu toàn sứ mạng mà Dòng Tên Chúa Giêsu theo đuổi hôm nay.”

Joseph Bui Quang Minh chuyen ngu
.................................................................................................

Tuesday, March 15, 2011

Report From Japan Province (after Earthquake and Tsunami (11.Mar.)

REPORT FROM JAPAN

First of all, let me express my appreciation for the many messages of condolence and encouragement we have received from around the world. You are surely aware of the enormity of the these catastrophic days in Japan, beginning with a 9.0 magnitude earthquake, followed quickly by colossal tsunami, and crippling the nuclear power plant that supplies a large portion of electric power to the Tokyo metropolis. Myriad aftershocks are felt daily.

While we pray for the thousands of victims and their families and other thousands who lost their homes or who have to evacuate the nuclear reactor vicinity, we can report that our own Jesuit men and their works were not seriously affected, as we have no presence north of Tokyo. We have heard no reports from the Sendai Diocese. There are many Catholic facilities in that diocese but most of these are inland from the shore.

Our Tokyo and Kamakura houses and schools experienced violent shaking but no irreparable damage. Several statues fell, losing an arm or a head. The cross at the pinnacle of the tower of St Ignatius Church in central Tokyo was wrenched from its moorings and hangs menacingly upside down held only at its base. The area below the tower has been cordoned off.

In order to reduce the use of electric power, all the areas surrounding central Tokyo will be on limited power outage for several hours each day. The number of trains carrying thousands of people into Tokyo every day has been drastically reduced and, despite official pleas to remain at home, most workplaces in Tokyo will surely do their best to remain open, thus putting pressure on employees to use available means of transport.

We are being warned that there may be further seismic activity during weeks and months to come. Some of this may affect the metropolitan area more directly. We hope for the best but prepare for the worst.

Sincerely in Christ Jesus,
Kajiyama Yoshio, SJ
Provincial of Japan
March 14, 2011
....................................................................

Tuesday, January 18, 2011

TÌM THẤY CHÚA TRONG VIỆC HỌC


TÌM THẤY CHÚA TRONG VIỆC HỌC
(Thư 1541 của Cha Phêrô Favre và các đoạn trích từ Nhật Ký Thiêng Liêng của Cha Giêrônimô Nadal)

“Chính Cha Laynez, từ năm 1539, đã khám phá ra các trường trung học”. Thánh Inhã đã viết như thế với lòng tri ân. Ngài nhận ra rằng Dòng Tên không thể nào cậy nhờ nguồn ơn gọi đến từ những con người mà tư chất đã định hình rồi. Ngài viết “phần lớn những người này, sau thời gian học tập cá nhân, đã trở thành những tâm hồn mệt mỏi, không còn hứng khởi gì khác ngoài một vị thế ổn định và chắc chắn, cũng như sẽ không hứng khởi lắm với trăm thứ thăng trầm của đời tông đồ mới, mà nền tảng của nó đòi hỏi sự từ bỏ chính mình.” Cha Laynez cho rằng: “nếu chúng ta cần những người thợ có chất lượng, những con người đảm đang và nghiêm túc, tràn đầy nhiệt huyết cũng như có khả năng khơi lên những hứng khởi, thì phải hướng về những người trẻ và chinh phục họ cho Dòng. Cho nên cũng phải săn sóc và chăm lo việc học cho họ.” (theo H. Bercher. Die Jesuiten, 1951, tr. 54.)
Về phần mình, Cha Giêrônimô Nadal cũng đã suy nghĩ và cầu nguyện về việc học trong Dòng. Ba đoạn trích từ Nhật ký thiêng liêng dưới đây chứng tỏ sự quan tâm của ngài (MHSJ, Nadal, IV, tr.718-719, 683, 714). Ngài tự vấn rằng tại sao chúng ta không dùng khuôn khổ mà phương pháp suy niệm trong Linh Thao giới thiệu để áp dụng cho việc học. Dù sao đi nữa thì chiêm niệm sẽ soi sáng việc học và khơi lên nơi nó ao ước đào sâu về đàng thiêng liêng. Đồng thời sự ý thức nội tâm này phải trở thành một hành động đã trải nghiệm hầu có thể phục vụ tha nhân.

“Học viện” đầu tiên của Dòng được thiết lập vào đầu năm 1540, lúc mà Dòng còn chưa được phê chuẩn. Bốn sinh viên trẻ đã lên đường đi Paris học triết học và thần học và trước khi rời Roma họ đã phác nên nội quy hầu giúp họ sống ơn goi. Một số điểm trong bảng nội quy này được ghi lại trong phần IV của Hiến Luật. (MHSJ, Cont. , IV, tr. 4-11). Chân phước Phêrô Favre đã viết cho những anh em này bức thư dưới đây.

Cha Favre phân biệt ba giai đoạn trong đời sinh viên Giê-su hữu: (1) “nguyên lý” vừa đánh dấu lúc bắt đầu việc học vừa nêu lên lý do mà người sinh viên phải dấn thân; (2) “đích nhắm” vừa là mục đích thiêng liêng được đề nghị phải theo vừa là khả năng tông đồ mà người tu sĩ phải có khi học xong; cuối cùng là giai đoạn “trung gian”, tức là tình trạng đặc thù của học viên được sai đi học.

Phần “trung gian” này cũng chính là “phương tiện”: tiếng Tây Ban Nha và tiếng Latinh dùng cùng một chữ cho hai ý niệm này. Đó là lý do mà cách nào đó bức thư không rõ ràng. Nếu mang nghĩa phương tiện thì việc học chỉ có nghĩa khi theo đuổi mục đích mà theo đó nó được thiết lập. Nếu mang nghĩa trung gian, hay giai đoạn ở giữa thì việc học tự nó đã mang một loại “chân lý” nào đó, nghĩa là nó đã có giá trị thiêng liêng rồi. Nguyên lý và mục đích thì được nối kết với Đức Ki-tô, Đấng là nguyên lý và mục đích của mọi sự, còn “phần giữa hay trung gian” thì gắn kết với Đức Ki-tô, Đấng trung gian nhờ mầu nhiệm Thập Giá.

Vào mỗi giai đoạn và bằng cách thức khác nhau, sinh viên Giê-su hữu phải tìm thấy bình an tâm hồn. Cha Favre nhấn mạnh điều đó trong khi khơi lại một cách rất cảm động những bối rối trong đời nội tâm mà ngài đã phải trải qua trong thời gian khá lâu.

menaritepuktanganmenari

Nguyện xin ân sủng và bình an của Đức Ki-tô Chúa chúng ta ở trong tâm hồn anh em!

Bức thư của anh em viết từ Paris đề ngày 5 tháng 4 đã đến tay tôi ngày 3 tháng này. Tôi tạ ơn Chúa không chỉ vì anh em đã đến nơi bình an mà còn được tin các anh em khác ở đó vẫn mạnh khỏe. Xin Đức Giê-su Ki-tô, Đấng cứu độ chúng ta ban cho anh em ân sủng thật dồi dào hầu anh em có thể hướng việc học theo đích nhắm được đề nghị mà không để lơi lỏng cánh cung ý hướng của mình. Anh em sẽ hoàn tất việc học trong niềm vui chiến thắng mà anh em đoạt được trong Chúa nếu như, với tinh thần của người ham hiểu biết những điều cao cả, anh em không làm tắt mất tinh thần của người ham cảm nếm những điều thánh thiêng.

Đó là ao ước của tôi và cũng như của Dòng. Ao ước này sẽ được thực thi cách suông sẻ dưới sự hướng dẫn của Đức Ki-tô, miễn là vị Sư Phụ cao cả và là Đấng ghi khắc tri thức tối hậu tiếp tục hướng dẫn anh em. Tôi muốn nói đến Thánh Thần, nơi Người tất cả những gì chúng ta biết, thì chúng ta biết chắc, và nếu không có Người thì người nào tưởng mình hiểu biết điều gì, thì chưa hẳn là đã hiểu biết như phải hiểu biết. (x. 1 Co 8,2).

Thậm chí cả những lời của chính Đức Ki-tô, vị Thầy muôn thuở của chúng ta cũng cần đến sự trợ giúp của Thánh Thần, Đấng hướng dẫn cao cả, theo như lời đã chép: “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.” (Ga 14, 26). Tin Mừng đã không chỉ nói “làm cho anh em nhớ lại” mà trước tiên là “dạy dỗ”. Vì vậy, nếu Đức Ki-tô, là Thầy, là Ánh Sáng và An bình của chúng ta muốn chúng ta mặc lấy Thần Khí của Người, không chỉ trong những chuyển động của ý chí và tình cảm mà còn trong ý thức tri thức, thì Thần Khí của Đức Ki-tô còn cần thiết hơn biết bao trong việc thu thập kiến thức từ những vị thầy không phải là Đức Ki-tô Chúa chúng ta! Anh em đã biết gương của thánh Tôma Aquinô: thánh nhân không những chăm chỉ ôn tập bài vở trong tinh thần cầu nguyện, dù đó là môn khoa học hay đạo lý đức tin, mà còn chuẩn bị chúng với vị Thầy nội tâm trước khi lên lớp nghe giáo sư giảng. Nói tóm lại, điều tôi xin anh em trong Đức Ki-tô là anh em hãy luôn chuẩn bị tâm hồn với sự trợ giúp của vị Thầy nội tâm và sau đó cùng ôn luyện với Người.

Tôi rất vui mừng trong Thiên Chúa vì anh em có được thuận lợi lớn lao hơn chúng tôi rất nhiều, ít ra là với cá nhân tôi. Trước khi hiến mình cho việc học, anh em đã tỏ tường đâu là đích mà anh em phải hướng việc học vào, qua việc hết lòng theo đuổi những ý hướng đã được gạn lọc kỹ càng. Vì thế, anh em đã nắm được nền tảng của mọi minh triết mà vì nó anh em đã bắt đầu việc học, anh em đã biết đích đến mà anh em sẽ hoàn tất, anh em đã thủ đắc chân lý của các phương tiện. Cho nên không có lý do gì mà anh em không thấy bình an trong tâm hồn, không chỉ lúc bắt đầu hay lúc kết thúc mà còn (dĩ nhiên là theo một kiểu khác) trong thời gian học tập nữa.

Vì anh em đã lên đường hướng về mục đích, nhờ trợ lực của Đức Ki-tô, Đấng là sự sống, mà trong Người, cuối cùng anh em sẽ tìm thấy sự an nghỉ trọn vẹn, vì anh em đã cất bước trên trực lộ là Đức Ki-tô, nên hệ quả chắc chắn là trong chân lý của giai đoạn trung gian, nghĩa là trong giai đoạn học hành, anh em cũng sẽ tìm được an nghỉ trong Đức Ki-tô, Đấng Trung Gian của chúng ta, Đấng từ Chúa Cha mà đến và đã đến thế gian cũng như lại bỏ thế gian mà đến cùng Chúa Cha (x.Ga 13,3 hoặc Ga 16,28).

Anh em hãy tạ ơn Thiên Chúa chúng ta. Phần chúng tôi, chúng tôi cũng làm điều ấy dù cho (như tôi đã nói lúc nãy) chúng tôi không có cơ hội học hành trong sự thật như anh em. Thật vậy, hồi ấy chúng tôi cứ ngỡ rằng tự các khoa học nhân văn đã đủ giúp chúng tôi khám phá ra nguyên lý và mục đích của chúng, và đồng thời cho chúng tôi biết chúng đóng vai trò phương tiện như thế nào. Vì trước tiên là không sở hữu được tri thức đúng đắn về nguyên lý để có thể bắt đầu cách bình an cũng như không biết mục đích để quy hướng về, nên chúng tôi đã tiến bước một cách thiếu trật tự và mất bình an trong việc sử dụng những phương tiện. Chúng tôi đã không biết tìm ra điều thiện ích trong chân lý của các nghành khoa học nhân văn, vì lý do là chúng tôi đã lẫn lộn giữa mục đích và phương tiện.

Một trong những yếu đuối khác của chúng tôi (ít ra là trong trường hợp của tôi) là đã không ý thức rằng Thập Giá cũng đáng có một chỗ, dù ở đầu, ở cuối hay ở giữa. Còn anh em thì khác, anh em biết rằng vị trí chính yếu của Thập Giá là ở giữa, bởi vì Thập Giá là sự hiện diện của Đức Giê-su Ki-tô Trung Gian. Anh em được làm một với Thập Giá, được biết và cảm nếm cung cách hành xử của Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh, Đấng mà hết thảy chúng ta đều đội ơn, người thì được gìn giữ khỏi tội lỗi, người thì được kéo ra khỏi tội lỗi nhờ ân sủng và lòng thương xót. Thuận lợi mà anh em có hơn chúng tôi thì không nhỏ đâu. Được như thế, anh em không chỉ thu lợi về thời gian mà còn biết được bí quyết mà bằng thói thường người ta sẽ không thể nào đạt được. Bí quyết ấy là chính Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh. Chính Người là Đấng chúng ta rao giảng, Đấng chúng ta đề nghị làm khuôn mẫu sống, không chỉ dưới bóng dáng của một quân vương hiển hách và quyền lực, mà phải trung thành với cách Người tỏ hiện, đó là một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ, nhưng đối với những người công chính Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. (1 Co 1,23).

Tôi đã trao thư của anh em cho Đức Hồng Y Contarini[1], người đã cư xử như một người cha gìn giữ kỷ niệm về anh em. Ngay lập tức người muốn đọc thư của anh em dù rất bận và người hết sức hài lòng.

Còn về chuyện tôi lao tác trong cánh đồng của Chúa ở đây, những chuyện vượt quá sức lực của tôi, tôi không ao ước kể cho anh em vào lúc này, hơn nữa tôi nghĩ chuyện này không cần thiết vì anh em có thể lấy thông tin dễ dàng từ các thư mà tôi gửi về Roma.

Sự vụ đức tin có chuyển biến nhưng không lấy gì bảo đảm, đến độ mà chúng tôi chỉ còn trông cậy trực tiếp vào Chúa mà thôi; ý tôi muốn nói là các phương tiện loài người thì kể như không, nhưng tôi thấy rất rõ rằng để đẩy lùi tệ lạc giáo, nếu các phương tiện càng mong manh thì chúng ta càng được ban cho nhiều tâm hồn, trong đức tin, muốn hướng đời mình cho một công cuộc ưu tiên hơn[2], nghĩa là hướng mình tới một cuộc sống cao cả hơn, bằng không, Ta đến với ngươi, và Ta sẽ đem cây đèn của ngươi ra khỏi chỗ của nó. (x.Kh 2,5)

Vì công cuộc ấy, cầu mong sao cho có thật nhiều người thợ; cầu mong sao cho cuối cùng những người muốn xây dựng đức tin công giáo biết bắt đầu ngay lúc này, bằng lời nói và cuộc sống của mình, tái xây dựng và xây dựng nền tảng phong hóa, nhất là khi chúng ta không đủ sức mạnh để chống lạc giáo chỉ bằng các khoa học nhân văn. Thế giới đã đi đến một tình trạng vô tín đến nỗi cần phải có những luận cứ bằng việc làm và cả đến máu; nếu không sai lầm sẽ trầm trọng hơn mà thôi.

Đối với những người lạc giáo ở đây hay ở nơi khác, từ lúc này, lời nói và lý trí không còn đủ sức nữa. Đó là lý do tại sao anh em có thể nói cho những kẻ học thức ở Paris rằng họ phải ra công tìm kiếm tinh thần sống động của các khoa học nhân văn, nhờ cuộc sống gương mẫu dưới mắt Đức Ki-tô, hầu vực dậy đức tin của những người sa ngã.

Tôi ngưng bút ở đây và xin anh em chuyển lời khen ngợi của tôi đến tất cả anh em, đặc biệt là Caceres, Miona, gửi lời chào đến các giáo sư của chúng ta, đến Ông Gueva và tất cả những người khác, những người mà anh em biết rằng họ sẽ vui mừng khi nghe lời chào thăm của tôi.

Nguyện xin Thiên Chúa cho anh em có được cảm thức về Ngài bằng lòng mến Chúa và sự nhẫn nại của Đức Kitô.

Từ Ratisbonne, ngày 12 tháng 05 năm 1541,
người bạn đường thân mến của anh em trong Đức Ki-tô
Phêrô Favre

[1] Gaspard Contarini, Hồng Y người Venice, đã góp công lớn trong việc chuẩn nhận Dòng Tên.
[2] Nguyên văn tiếng La- tinh: ad opera priora.
ros star ros star ros

Về phần mình, Cha Giêrônimô Nadal cũng đã suy nghĩ và cầu nguyện về việc học trong Dòng. Ba đoạn trích từ Nhật ký thiêng liêng dưới đây chứng tỏ sự quan tâm của ngài (MHSJ, Nadal, IV, tr.718-719, 683, 714). Ngài tự vấn rằng tại sao chúng ta không dùng khuôn khổ mà phương pháp suy niệm trong Linh Thao giới thiệu để áp dụng cho việc học. Dù sao đi nữa thì chiêm niệm sẽ soi sáng việc học và khơi lên nơi nó ao ước đào sâu về đàng thiêng liêng. Đồng thời sự ý thức nội tâm này phải trở thành một hành động đã trải nghiệm hầu có thể phục vụ tha nhân.

Các học viên có thể rút được thêm nhiều ích lợi từ việc học cũng như giờ lớp nếu những việc này được thực hiện theo cung cách của những bài Linh Thao.

Trước khi lên lớp nghe giảng, có thể chuẩn bị bằng lời cầu nguyện, tiếp đến đọc trước bản văn mà các giáo sư sắp diễn giải cũng như lướt qua một lượt điều mà tôi gọi là lịch sử; thêm vào đó nếu một hình ảnh nào đó giúp cho tôi hiểu bài tốt thì cũng có thể lướt qua nó, thứ ba là đặt trước mắt mình mục đích mà Dòng theo đuổi như là mục đích của lớp học sẽ theo cũng như mọi điều khác. Hành trình này tương ứng với ba tiền dẫn của Linh Thao.

Về ba điểm để suy niệm, giáo sư sẽ thực hiện điều này khi giải thích bài học, còn sinh viên thì nghe và lĩnh hội. Ở điểm này điều mà ta cần làm là huấn luyện trí năng, trong khi trong Linh Thao thì ý chí và cảm nghiệm bên trong mới là điều cần tìm. Việc này trong môn thần học thì khá dễ. Còn đối với những môn học khác nếu muốn thành công thì cần sự luyện tập kiên trì. Có thể suy niệm các bài học hàng ngày để thay cho việc đối thoại thiêng liêng. Những ai không phải theo các lớp trong khi vẫn còn trong giai đoạn học tập vẫn có thể thực hiện việc này cách dễ dàng và áp dụng cơ cấu này.

Trước hết phải đọc Kinh Thánh và khi đọc, luôn luôn đặt mình trong đức tin, trong khiêm nhường, đơn sơ và đạo đức; khi đọc lần đầu, chỉ cần khám phá ra phương tiện hầu có thể chuẩn bị mình để xin được những ơn đã nói trên, tránh đi vào một bài thao luyện trí năng; ngược lại, phải đọc và lắng nghe theo kiểu một bà già đơn sơ và đạo đức. Khi đọc lần hai và muốn thực hành trí năng, hãy đọc những chú giải đã được Giáo Hội chấp nhận. Cuối cùng, chính Thiên Chúa sẽ là Đấng mở trí cho ta để ta có thể khám phá ra những ý tưởng phù hợp với phán đoán của Giáo Hội và các thánh Tiến sĩ, vì lợi ích của Hội Thánh và chống lại sự kháng cự của những kẻ lạc giáo.
* * *
Việc học phải được giám sát sao cho khi học xong thì ta không còn cần làm việc trên sách vở nữa; những gì Chúa đã ban cho ta trong học tập, hãy sử dụng chúng để mưu ích cho chính ta và tha nhân. Hãy thực hành những điều đã học cách tuần tự giữa suy niệm và chiêm niệm. Nhờ hai hành vi này, cùng với lòng thương xót của Chúa, nền học vấn nhân bản của ta sẽ nên hoàn thiện, được soi sáng và góp phần cho ơn cứu độ nhiều người. Tuy nhiên, trong chuyện này cũng như nhiều chuyện khác, mỗi người nên phó mình vâng phục bề trên chính thức của mình.
* * *
Ta có thể học thần học theo ba cách: thứ nhất là việc học mang tính suy tư ngay cả đến những vấn đề thực tiễn; thứ hai là việc thực hành, theo quan điểm luân lý và thứ ba là phương thức thần bí và thiêng liêng.

Những người nào thích làm việc trí thức, giỏi hay dở tính sau, có thể sử dụng phương cách thứ nhất và có thể thành công, miễn là người ấy phải có khả năng tư duy, nghĩa là người ấy phải thực sự có năng khiếu đối với loại học vấn như thế. Những người có cá tính năng động có thể sử dụng phương cách thứ hai, dẫu cho người ấy không phải là một chân dung thiêng liêng vượt trội và trong đời nội tâm chưa có một kinh nghiệm thần bí nào.

Chỉ có những người khiêm tốn và giản dị trong Đức Ki-tô mới có thể tiếp cận cách thứ ba. Trong chuyện này, những gì Thánh Giêrônimô và các thánh khác đã nói thật là đúng đắn, nhưng người ta hiểu rất sơ sài và áp dụng rất ít: Thánh Kinh chỉ hoàn toàn được hiểu khi Thánh Kinh được đem ra thực hành, nghĩa là khi ta, qua hành động, hoàn tất những gì phải được hoàn tất, và cùng lúc ta hiểu và nắm được Lời Chúa cách nội tâm. Đó chính là những gì Đức Ki-tô đã nói: “Nếu anh em ở lại trong lời của Thầy, thì anh em thật là môn đệ của Thầy, anh em sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng anh em.” (Ga 8,32) Tuy nhiên, vì trong sự hiểu biết nội tâm ấy, chúng ta có thể bị sai lạc hay bị đánh lừa, nên chuẩn tắc ta cần ở đây là những chân lý mà chúng ta có được nhờ trực giác không được đi ngược lại với những chân lý học từ các giáo sư, những chân lý được thiết lập từ suy tư trí thức và nghiên cứu thần học; thêm vào đó, tất cả những chân lý ấy phải quy phục trước phán quyết của Giáo Hội, rồi đến của Dòng hay của những con người có phán đoán ngay chính.

Dịch từ bản tiếng Pháp, Notes Ignatiennes, no. 6, 1956.
Bùi Quang Minh s.j.

fikir tension sengihnampakgigi love angel

Facebook Twitter Delicious Favorites More

 
Lên đầu trang
Xuống cuối trang