I want to love you more!

Showing posts with label thieng-lieng. Show all posts
Showing posts with label thieng-lieng. Show all posts

Friday, May 18, 2012

Cầu Nguyện Với Lòng Biết Ơn

Cầu Nguyện Với Lòng Biết Ơn[1]

Người có tâm hồn biết ơn luôn cảm tạ về mọi điều trong cuộc sống. Chẳng có gì đến với tôi là tình cờ. Chính sự hiện hữu của bản thân đã là một món quà, bởi tôi không thể sinh ra chính mình. Mọi thứ tôi có đều là ân huệ. Mọi cuộc gặp gỡ giữa tôi và người khác đều mang đến cho tôi những sự chúc lành nào đó, ngay cả khi họ chẳng đem lại cho tôi sự may lành nào. Cho nên chúng ta vẫn thường hay nói 'trong cái rủi cũng có cái may' đấy.

Lòng biết ơn là một thái độ không thể thiếu trong mọi chiều kích của đời sống. Lòng biết ơn vừa giúp chúng ta nhìn thế giới với cả bề rộng chiều sâu của nó (như nó là), vừa biểu lộ cái tôi chân thực của chúng ta. Ronald Rolheiser, một tác giả của nhiều sách thiêng liêng, nói rằng: để trở nên một vị thánh, tâm hồn người ấy không có gì khác hơn là chỉ có thể ngập tràn sự biết ơn.[2] Theo Gustavo Gutiérres, một thần học gia giải phóng, thì duy nhất người có lòng biết ơn mới có thể biến đổi thế giới tục hóa này.[3]

Một sự biến hình theo tinh thần của Chúa Giê-su phải trải qua một quá trình hun đúc và uốn nắn con tim mình hướng tới lòng biết ơn. Một phương cách hiệu quả nhất để có được lòng biết ơn là thực tập những lời cầu nguyện tạ ơn mỗi ngày. Không phải thỉnh thoảng chúng ta dâng lời tạ ơn khi có một điều may mắn ngoại thường nào đó xảy đến với chúng ta. Đúng hơn, lời tạ ơn của chúng ta phải liên tục nối dài ngày qua ngày. Như thánh Phao-lô đã nói: “hãy cầu nguyện không ngừng; (và) hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh” (1 Tx 5, 17b-18a). Để làm cho lòng biết ơn của mình trở nên phong phú và lớn mạnh, chúng ta cần tạ ơn Chúa ngày đêm, bất kể khi nào chúng ta có cơ hội và trong suốt cuộc đời của chúng ta.

Ngoài ra, lời tạ ơn chung chung về mọi thứ là không đủ. Lời tạ ơn của chúng ta phải cụ thể như: tạ ơn về sức khỏe của tôi, về thị lực của tôi, về trí khôn và về kinh nghiệm sống của tôi… Chúng ta cũng có thể dâng lời tạ ơn để cám ơn những người bạn, những thân nhân, những ân nhân của chúng ta, cũng như cám ơn tất cả những ai hay những biến cố sự kiện nào đã giúp hình thành nên tôi trong những năm qua. Danh sách những lời tạ ơn này thật là vô cùng tận. Chúng ta cám ơn hoài, cám ơn mãi mà chẳng bao giờ hết được.

Dầu vậy chúng ta lại có khuynh hướng lập một danh sách, ít là trong đầu của chúng ta, về tất cả những phàn nàn của chúng ta, về mọi thứ mà chúng ta cần hoặc ước muốn và về những gì chúng ta không có. Chính vì thế chúng ta thường thấy rất nhiều những lời nguyện dâng lên Thiên Chúa chỉ để cầu xin điều này điều nọ, mà ít thấy những lời tạ ơn được dâng lên. Dĩ nhiên lời cầu xin không phải là không cần thiết nhưng chúng ta cần biểu lộ lòng biết ơn ra nhiều hơn nữa vì vô vàn ân huệ mà chúng ta đã nhận được. Tác giả David Steindl-Rast, trong cuốn sách của ông với tựa đề Lòng Biết Ơn, tâm điểm của cầu nguyện[4] đã định nghĩa cầu nguyện là “sống biết ơn”.[5] Meister Eckhart[6] có lần cũng đã nói: “Nếu như lời cầu nguyện duy nhất mà chúng ta có thể dâng lên Thiên Chúa là Tạ Ơn, thì như thế cũng đã đủ rồi.”

Tuy nhiên cái ngã (ego) lại là một kẻ lừa bịp tinh ranh. Những lời tạ ơn của chúng ta cũng có thể dễ dàng trở thành ích kỷ bởi cái ngã có thể dùng ngay cả những lời tạ ơn ấy của chúng ta để phục vụ cho mục đích ích kỷ của nó.

Nếu tôi cảm tạ Chúa vì mọi ơn lành tôi có và tất cả những ơn ấy đã được ban cho tôi, mà trong lòng không có chút biết ơn đối với những gì mà cũng đã được ban cho người khác, thì lời tạ ơn của chúng ta sẽ hoàn toàn mang tính ích kỷ. Tạ ơn Chúa vì tôi có đủ thức ăn trong khi nhiều người khác đang đói lả. Tạ ơn Chúa vì tôi khỏe mạnh trong khi những người xung quanh tôi lại ốm đau tật nguyền. Tạ ơn Chúa vì tôi an toàn trong khi tôi chẳng cần biết đến những người bên cạnh tôi có an toàn hay không. Tạ ơn Chúa vì tôi lương thiện và từ tâm không giống như những người khác. Đó là lời cầu nguyện của người Pha-ri-sêu trong dụ ngôn theo thánh Luca: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia” (Lc 18, 10-11). Đó không phải là lời cầu nguyện xuất từ lòng biết ơn thật sự. Nó chỉ là sự ích kỷ và kiêu ngạo của cái ngã tự tôn.

Một tâm hồn biết ơn sẽ tạ ơn Chúa về mọi điều tốt lành có được trong đời sống của tôi cũng như trong đời sống của những người khác. Có thể thật khó khăn để tạ ơn Chúa về những may mắn, những thành đạt, những món quà, và những người bạn mà người khác có, nhưng tôi lại không có. Nhưng đó chính là thách đố cho lòng biết ơn đích thực. (Tất cả những cái khác chỉ là ghen tuông và đố kỵ.)

Chúng ta dễ dàng tạ ơn Chúa về những gì mình có, trong khi đó chúng ta lại ghen tị với những người có nhiều hơn mình hoặc những người mà họ có những thứ chúng ta ước muốn. Khi một ai đó được người ta thích hơn là thích tôi, thay vì tạ ơn Chúa thì tôi lại cảm thấy ghen ghét vì người đó được yêu và được đón nhận. Một tâm hồn biết ơn thật sự sẽ hân hoan vui mừng trước số phận may mắn của mọi người và của mỗi người.

Một tâm hồn biết ơn cũng sẽ đọc được những dấu chỉ của thời đại với một ánh mắt mong muốn điều tốt nhất đến với mọi người chứ không chỉ cho riêng mình mà thôi. Cái tôi thực của tôi sẽ cảm kích khi nhận thấy rằng thần khí vẫn đang hướng dẫn con người hôm nay tìm kiếm một nền linh đạo mới. Cái tôi ấy sẽ mừng vui với những thành quả đạt được từ các cuộc đấu tranh cho công bình. Ở bất cứ nơi đâu trên thế giới mà có lòng trắc ẩn và bình an thì chúng ta đều có thể học được từ nơi đó lòng biết ơn tự sâu thẳm trái tim mình. Người biết ơn thật sự sẽ hạnh phúc để khám phá rằng những người không cùng tôn giáo của mình cũng có thể dạy mình nhiều điều nhằm giúp siêu việt hóa cái ngã của chính mình. Chúng ta cảm tạ ơn Chúa vì điều đó.

Hơn hết chúng ta cần cảm tạ Chúa vì những phát minh mới trong khoa học, những khám phá về sự giãn nở của vũ trụ với tất cả chiều kích nhiệm mầu của nó. Bởi vì những phát minh khám phá ấy sẽ đem lại một thuận lợi rất lớn cho các thế hệ mai sau. Chúng ta cũng cảm tạ Chúa khi có ngày càng nhiều người ý thức về những tai hại của chủ nghĩa cá nhân cũng như nhận thức về sự hủy diệt mà chúng ta đang đối diện. Những nhận thức ấy có thể được coi là 'trong cái rủi vẫn có cái may'.

Một điều nữa chúng ta có thể nói thêm ở đây là những lời nguyện tạ ơn cũng chứa đựng một sự biến hình tận căn. Khi chúng ta thực tập mỗi ngày cầu nguyện với lòng biết ơn, chúng ta sẽ cảm nhận được sự thay đổi về thái độ sống của chúng ta. Cầu nguyện như thế sẽ giúp chúng ta yêu mến - tôn trọng sự sống, con người và Thiên Chúa nhiều hơn. Ở mức độ nào đó, thái độ sống ấy sẽ làm thay đổi nhân cách của chúng ta.

Nếu chúng ta học nhìn mọi thứ trong đời sống như những quà tặng nhưng không, thì chúng ta không còn nhăn nhó bực bội khi chúng ta kinh nghiệm cuộc sống này thật cực khổ chẳng khác gì kiếp trâu ngựa, ngày ngày vật lộn cách nhàm chán với hết vấn đề này đến vấn nạn khác. Thay vì trong lòng đầy ắp những lo âu, phàn nàn, bi quan và chẳng hài lòng với bất cứ điều gì, thì với lòng biết ơn, chúng ta sẽ cảm thấy hạnh phúc, mãn nguyện và tri ân với những gì chúng ta đang có. Chúng ta sẽ tôn trọng và đánh giá cao sự tốt lành nơi người khác thay vì hoài nghi, chỉ trích hay chỉ thấy được những tiêu cực nơi họ mà thôi.

Một tâm hồn dạt dào lòng biết ơn cũng sẽ thay đổi thái độ của mình đối với Thiên Chúa. Tôi không còn nghĩ rằng Thiên Chúa là Đấng Tốt Lành và tôi tin điều ấy chỉ vì tôi được dạy bảo như vậy. Giờ đây tôi cảm thấy rằng Thiên Chúa là Đấng Tốt Lành và Thiên Chúa yêu tôi cũng như yêu hết thảy mọi người.

Siloha
Chuyển ngữ


[1] Theo Albert Nolan, Jesus Today – A Spirituality of Radical Freedom, (New York: Orbis Books, 2006), chương 10: “With a Grateful Heart”, 111-116.

[2] Ronald Rolheiser, The Holy Longing: The Search for a Christian Spirituality (New York: Doubleday, 1999), 66.

[3] Ibid., 67.

[4] Gratefulness, the Heart of Prayer

[5] Steindl-Rast, Gratefulness, 59.

[6] Meister Eckhart là một tu sĩ người Đức thuộc Dòng Đa-minh, là thần học gia, triết gia và là một nhà huyền nhiệm thời Trung Cổ.

Monday, May 7, 2012

Học Nhỏ Để Sống Lớn

CHÚT SUY TƯ NHÂN NGÀY LỄ CẦU NGUYỆN CHO ƠN THIÊN TRIỆU


Một ngày nọ, vào năm 1975, ngay giữa chợ trời tấp nập người qua lại nơi cuối đường Trương Minh Ký, Sài Gòn, thi sĩ "điên" Bùi Giáng thong thả bước đến một cửa hàng bán phụ tùng xe đạp cũ, lặng lẽ vơ lấy cái "ghi đông" xe rồi tỉnh bơ bỏ đi như không có chuyện gì xảy ra. Thế là, bà chủ cửa hàng hoảng hốt, tức tốc chạy nhào ra đường, la toáng um sùm nhờ thiên hạ bắt "cái thằng ăn cắp." Chẳng cần ai đến bắt, ông bình thản đi trở lại để trả cái ghi-đông vào chỗ cũ và từ tốn nói: "Bà con thấy chưa, mất tất cả... mà phải câm, thế mà mất có cái ghi-đông thì la rầm trời! Kỳ khôi quá!"


Ồ! Nghĩ kỹ lại cũng nực cười cho phận kiếp người, nhưng sâu xa cũng thấy đáng thương làm sao ấy! Con người vẫn thường hoảng hốt hay giận dữ khi bị người khác lấy đi những cái "ghi-đông" của mình, hoặc có người suốt cả cuộc đời chỉ lo thu lượm mấy cái "ghi-đông", và sẽ trở thành giống như con trẻ thét rống lên khi bị chúng bạn giật lấy cây cà rem trên tay nó. Thế giới của người lớn, hiểu theo cách nào đó, cũng chẳng khác gì trẻ con. Người lớn cũng có những trò chơi cho riêng mình, cũng muốn chơi, cũng muốn thay đổi những món lạ, món mới... như xe mới, nhà mới, công việc mới, quần áo mới, đầu tóc mới, tương quan mới, và thậm chí, cả vợ mới, chồng mới... Nếu không được toại nguyện thì bực dọc, điên tiết... Tại Bắc Ninh (Miền Bắc) Việt Nam vừa qua, một ông chồng đã lấy búa đập liên tiếp vào đầu vợ khiến vợ chết ngay lập tức chỉ vì vợ không cho ông đi hát quan họ. Một người anh ở Vĩnh Long đã giết đứa em gái chỉ vì một miếng cá bị mất trên mâm cơm... Rồi nhiều cái chết, nhiều xung đột vẫn đang xuất phát từ những nguyên nhân rất bé nhỏ, thậm chí rất nực cười. Xét cho cùng, nếu có dịp dừng chân lại một chút để ngắm nhìn thế giới người lớn, chúng ta không khỏi buột miệng cười thầm, hay bật tiếng ha...ha..... vì hình như mọi cử chỉ, lời nói đều rất trẻ con! Các nhà nghiên cứu tâm lý học ngày nay cũng cho thấy điều đó.


Nhưng, nếu quan sát thật sự thế giới của trẻ con, thì hình như chúng ta không khỏi giật mình, vì xem ra trẻ con lại dạy người lớn chúng ta rất nhiều bài học vô giá thì phải.


Dành trọn một buổi chiêm ngắm bầy trẻ đang nô đùa tung tăng cùng nhau, chúng ta không khỏi cảm thấy xấu hổ khi nhìn lại bản thân người "lớn" của mình. Người lớn chúng ta không sống được như chúng. Người lớn chúng ta đang rất nghiêm nghị, đang rất đạo mạo, đang rất ư là trầm trọng hóa vấn đề. Chỉ khi chúng ta trở thành cụ ông cụ bà thì mới thấm thía cái lẽ tương đối trên cõi đời này! Vậy mà chúng ta vô minh hoang phí cả đời để trở thành người càng lớn càng tốt, càng muốn là người lớn thì chúng ta lại càng phải hết mình hết trí khôn để diễn trọn vai nghiêm túc và trầm trọng.


Thế giới của người lớn chúng ta đang quá nặng nề và căng thẳng! Nhất là những ai làm lớn một chút, thường hay trầm trọng hóa mọi vấn đề, vì vậy người làm lớn thường "phải bận" suốt, cho dù có đi nghỉ ngơi cũng nói là bận việc, là không có thời gian... Chẳng có giám đốc nào, bác sĩ nào, nhân viên cao cấp nào, hay một cha xứ nào dám treo bảng nơi làm việc của mình là "tạm đóng cửa 1 tuần để xả hơi." Thì ra nghỉ ngơi là một tội, thì ra nghỉ phép đi du lịch là không ổn...! Cũng như là thông lệ khi những ai đã làm ra nhiều tiền thì càng "phải bận bộn". Ngày nay, khi quan sát khắp nơi, hầu hết con người sống và đánh giá nhau theo hiệu năng và hiệu quả. Người càng làm ra nhiều tiền càng có tiếng nói, là tiếng nói mà có vẻ như "luật bất thành văn" vốn hầu hết mọi người hoan hô vỗ tay, cho dù tiếng nói ấy rất tầm thường hoặc thậm chí vô cùng sáo rỗng. Cũng thế, con người vẫn đang chọn bạn mà chơi, chọn đối tác mà làm ăn theo não trạng sàng lọc như thế. Thấy rõ nhất là trong một nơi làm việc mà có nhiều sắc tộc khác nhau, chúng ta sẽ thấy rõ trắng chơi với trắng, đen nói chuyện với đen, mũi tẹt quây quần cùng mũi tẹt... Ngay cả trong các nơi thờ phượng tôn giáo - nơi để yêu thương đại đồng, để hiệp nhất cầu nguyện - cũng không tránh được sự phân biệt nào đó nơi các tín đồ. Nếu vậy, trong Kinh Lạy Cha, thì phải đọc là "Lạy Cha của con ở trên Trời" và Kinh Lạy Cha sẽ không còn cầu nguyện với một Cha duy nhất nữa, mà sẽ nhiều "Cha ở trên Trời"!


Sân chơi ở trường tiểu học là trường dạy cho người "lớn" nhiều bài học vô giá. Nơi đó, các trẻ em dù với các màu da trắng đen vàng nâu đều đùa vui và tung tăng cùng nhau một cách hồn nhiên vô tư. Còn sân chơi của người "lớn" thì chẳng phải là sân chơi thật sự, nhưng mà là những chiếc mặt nạ che đậy cả khối hiềm tỵ, cạnh tranh, tiêu diệt, thống trị, danh lợi,... Trẻ con không phân biệt, không nghiêm túc và đạo mạo như người lớn. Thế giới của chúng là vui nhộn và hồn nhiên hiệp nhất. Chúng không ý niệm kẻ thù. Ai biết vui đùa đều có thể là bạn của chúng. Hình như người "lớn" không có can đảm như trẻ con, vì chúng có sao nói vậy, chúng nghĩ sao tỏ bày ra thế, chúng có thể chơi với rắn, bò cạp mà không bị giết chết!


Thế giới người lớn ngày nay đang gặp quá nhiều trục trặc, quá nhiều những con người lủng củng do "phản ứng phụ" của nền khoa học kỹ thuật hiện đại gây ra, nên con người cứ phải vừa thúc đẩy hiện đại hóa tất cả nhưng đồng thời cũng vẫn chữa lành theo kiểu đắp vá những lỗ hổng do chính sự hiện đại đó nảy sinh. Chẳng hạn, càng có nhiều bộ máy cao cấp, càng nảy sinh nhiều căn bệnh thể lý và tinh thần kéo theo, như cell-phone, Ipad, vi tính, máy điều hòa nhiệt độ...


Thiết tưởng, bài thơ Nơi Gặp Gỡ Tuyệt Diệu của Trẻ Em của đại thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore xem ra càng lúc càng là bài học thức tỉnh cho người lớn hôm nay:


Trẻ em gặp nhau trên bờ biển của các thế giới mênh mông vô tận.
Bên trên, bầu trời bao la, trong xanh và bất động.
Bên dưới, nước không ngừng chuyển động lao xao.
Trên bờ biển của các thế giới mênh mông vô tận, trẻ em gặp nhau, chạy nhảy và la giỡn.
Chúng xây những ngôi nhà cát và chơi với những vỏ sò trống rỗng.
Chúng kết những chiếc lá úa thành những con thuyền và vui cười thả trên biển bao la.
Trẻ em chơi trên bờ biển của các thế giới mênh mông vô tận.
Chúng không biết bơi, cũng chẳng biết quăng lưới.
Những người thợ lặn xuống biển mò ngọc trai, còn những nhà buôn xuôi ngược tàu thuyền, trong khi trẻ em lượm những hòn sỏi rồi lại ném đi.
Chúng không tìm kiếm kho báu, cũng chẳng biết quăng lưới.
Biển dâng lên thành tiếng cười rộ, còn bãi cát ánh lên nụ cười.
Sóng dữ ì ầm những khúc hát vô nghĩa như tiếng hát ru của người mẹ lúc đưa nôi. Biển chơi đùa với trẻ em, còn bãi cát ánh lên nụ cười.
Trẻ em gặp nhau trên bờ biển của các thế giới mênh mông vô tận.
Bão tố lang thang trên bầu trời không lối, thuyền bè bị đánh đắm trên biển cả không đường.
Thần tử ở khắp nơi, còn trẻ em cứ mải chơi đùa.
Trên bờ biển của các thế giới mênh mông vô tận là nơi gặp gỡ tuyệt vời của trẻ em. (Rabindranath Tagore - Gitanjali)


Con trẻ vui đùa với những nhà cát chúng làm ra, chúng múa nhảy hát ca chung quanh những thành quả của chúng, thế rồi chợt một cơn sóng ập đến và chỉ tích tắc chỗ ấy trở thành là một bãi cát phẳng lỳ không một dấu hiệu của thành quả nào nữa. Rồi bọn trẻ òa lên cười vui và lại cúi xuống xây tiếp... Biết rằng chỉ là dã tràng xe cát biển đông, nhưng bọn trẻ vẫn vui đùa và thật hạnh phúc bên thành quả "dã tràng" ấy. Trong khi chúng hòa nhập vào thiên nhiên, vào những gì là sức sống trời cho thì người lớn lại hòa nhập vào thế giới của sự chết, là những máy móc đang không ngừng phát ra các loại sóng điện tử, từ trường và những bức xạ xấu. Từ đây, vì thế, người lớn chẳng còn nhạy cảm về những sinh linh bé nhỏ đang làm tổ trên cành cây, chẳng còn rung động trước ngọn cỏ đang cúi rạp xuống cơn gió thoảng, chẳng còn ngạc nhiên trước một con kiến đang vác đồng loại trên miệng để đưa về tổ... Thế rồi, dĩ nhiên sẽ không còn cảm động trước một giọt máu đang lớn dần thành người mỗi phút giây trong dạ mẹ...!


Trẻ thơ là đùa vui. Đùa vui có nghĩa là quên quá khứ và dừng nghĩ về tương lai. Vậy, đùa vui chính là sống hiện tại. Trong bữa cơm gia đình nọ, khi mọi người lớn đang tranh luận về đề tài: "Ai sẽ là người ứng cử tổng thống Mỹ nhiệm kỳ tới?" Cuộc tranh luận rất sôi nổi và thậm chí có những lúc gay cấn. Tất cả mọi ý kiến và dự đoán đều xoay quanh về chiến tranh I-rắc, về kinh tế Mỹ vừa qua, về những cuộc bạo động hay khủng bố Tòa Tháp Đôi... Phút chốc, bầu khí trong bữa ăn trở nên căng thẳng và xung đột. Bất ngờ, một cậu bé 4 tuổi từ ngoài vườn, hai bàn tay ôm cẩn thận một chó con đang ngủ, chạy vào đến bên cha cậu đang tranh luận tại bàn ăn: "Ba ơi, Baby bị bệnh rồi!" Thế là, giờ đây cậu trở thành sự chú ý của tất cả mọi người lớn. Và đề tài là cậu bé và con chó đang bệnh. Cậu bé 4 tuổi như trở thành bậc thầy đưa tất cả người lớn về với quà tặng sự sống, về với hiện tại.


Vâng! Nghiệm lại trong một ngày sống, chúng ta thường nói nhiều hơn, tranh cãi nhiều hơn, phê phán nhiều hơn... nhưng lại rất ít hoặc không có giờ để chiêm ngắm, để quan sát, để chiêm niệm, và để thinh lặng. Có lẽ người lớn chúng ta cũng cần dành cho cuộc đời mình những thời khắc lắng đọng như dòng nhạc với những dấu lặng làm cho nội dung bản nhạc thêm sâu lắng và chuyển tải những gì nhạc sĩ mong muốn. Một bản nhạc không có dấu lặng hay những bài hát liên khúc sẽ chỉ là những tiếng ồn tra tấn làm cho thính giả thêm mệt mỏi và dễ khùng điên. Đúng vậy, thời đại hôm nay chính là bài "hét" liên tục không có dấu chấm nghỉ!


Đã đến lúc, mỗi người lớn chúng ta tạm dừng chân đôi chút, dù đang quằn qụai giữa dòng thác cuồn cuộn của cơm áo gạo tiền, của tranh đua hơn thiệt, để trở về với cõi thật - là quê nhà ấm êm và chất chứa ngập tràn yêu thương mà ai ai khi đã làm người cũng đều khát khao. Tạm dừng nghỉ làm người lớn trong phút chốc, để thấy được cái lung linh dịu vợi của quà tặng Thiên Chúa đang diễn ra từng giây phút cho hết thảy mọi người trên hành tinh này, mà bao lâu nay chúng ta đã đánh mất hoặc không muốn nhìn thấy, đó là Thiên Chúa - Chúa Tể Đất Trời - đang rất lặng lẽ ở với nhân loại qua cử chỉ giản dị và sâu lắng, là Bữa Tiệc Bẻ Bánh, Ngài đang mong mỏi nuôi sống con người vốn đói khát từ thẳm sâu lòng mình. Chỉ có Ngài, Đấng mới có thể lấp đầy mọi nỗi trống vắng lòng người, mới có thể làm no thỏa cơn đói khát khôn nguôi của kiếp nhân sinh.


Lạy Chúa Giêsu, hơn lúc nào hết, xin cho thế giới ngày hôm nay cảm nhận được quà tặng dịu vợi nhất trên tất cả mọi quà tặng và vinh quang trần gian, đó là Chúa trở thành Thịt và Máu qua tấm bánh nhỏ bé đơn sơ sau khi đôi bàn tay linh mục đọc lời truyền phép.


Vâng, lạy Cha chúng con ở trên trời, hãy thương xót tất cả chúng con vì cuộc khổ đau của Chúa Giêsu, để chúng con nhận ra rằng thế giới đang càng ngày bất ổn và có nhiều lủng củng trên mọi bình diện cuộc sống, do con người thời đại đang xây cho mình những "xe cát biển đông", đang nắm giữ và bảo vệ những chiếc "ghi-đông" của đời mình, do càng ngày con người hôm nay đang làm cho mình "lớn" dần, không còn muốn chân nhận giá trị vô giá và cao cả - trong hình ảnh thật là khiêm cung nhỏ bé là nam nữ tu sĩ - của ơn gọi thánh hiến và ơn gọi làm cho bánh và rượu trở thành Mình và Máu Thánh Chúa, để dưỡng nuôi hành tinh vốn đang quằn quại trong cơn đói khát sự sống trường sinh.


"Bà con thấy chưa, mất tất cả... mà phải câm, thế mà mất có cái ghi đông thì la rầm trời! Kỳ khôi quá!"


Thương lắm, những con người "lớn" ngày hôm nay!


Xin Cha thương xót chúng con và toàn thế giới, để quà tặng của Cha vẫn ở mãi với hành tinh chúng con qua ngày càng thêm nhiều bạn trẻ nam nữ can đảm sống đời thánh hiến. Amen.


Lm. Raphael Amore Nguyễn


(trích trong Đặc San Giáo Sĩ số 170, ra ngày 6/5/2012)

Wednesday, January 18, 2012

10 KHUYẾT ĐIỂM CỦA CHÚA GIÊSU

  1. Chúa Giêsu kém trí nhớ!
  2. Chúa Giêsu không biết làm toán
  3. Chúa Giêsu không sành luận lý
  4. Chúa Giêsu không biết kinh tế tài chánh
  5. Chúa Giêsu làm bạn với kẻ tội lỗi
  6. Chúa Giêsu thích ăn uống, tiệc tùng
  7. Chúa Giêsu không giữ luật Do thái
  8. Chúa Giêsu như điên cuồng
  9. Chúa Giêsu phiêu lưu
  10. Chúa Giêsu có những lời giảng dạy xem ra mâu thuẫn

Lúc sắptrút hơi thở, Chúa Giêsu có cuộc đối thoại cuối cùng với hai người gian phicùng bị treo trên thập giá cạnh ngài. Một trong hai người đó thốt lên lời nầy vớiChúa Giêsu: "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đếntôi". Và Chúa nói với anh ấy: "Tôi bảo thật với anh, hôm nay, anh sẽđược ở với tôi trên Thiên đàng" (Lc. 23, 42-43).

Chúa Giêsukhông sưu tra lại lý lịch người đó để nhớ xem hắn gian ác đến mức độ nào, khôngcân nhắc tội nặng, nhẹ để châm chước hay tạm ra hình phạt thế nào đó cho thíchđáng. Người gian phi kêu nài Ngài nhớ, thì Ngài "nhớ" một điều là thấyngười ấy trước mắt, còn tất cả mọi điều gian ác trước đó Ngài đã quên hết, quênđến độ ngay hôm đó hứa ngay Nước Thiên đàng cho anh ta. Các thánh nói: tên nầysuốt đời ăn trộm, đến lúc chết nó ăn trộm nước thiên đàng luôn!

Trong Phúcâm chúng ta gặp lại nhiều chứng tích về việc Chúa Giêsu kém trí nhớ như thế.Nhưng qua chuyện ngụ ngôn người cha nhân hậu, sự kiện đó rõ ràng. Thánh sử Lucakể rằng người con út trong hai con của cha già đã lấy hết phần gia tài của nó,để bỏ nhà ra đi sống đời phóng đảng, quên cha, quên anh. Ðến khi tiêu hết tiền,gặp năm đói, thì quay trở về nhà, xin khai thú tội lỗi mong cha già xét tìnhcha con mà tha thứ...

Người cha(là hình ảnh Chúa Giêsu), không kể đến tội cũ, chỉ trông ngóng chờ con; thấycon đằng xa, thì chạy ra đón. Con có thú tội, thì cũng không cố nghe để hạch hỏitội cũ mà ra lệnh cho tôi tớ: lấy áo đẹp, giày tốt, nhẫn quý mang lại cho cậu,làm thịt con bê béo dọn tiệc vì con ta chết mà nay nó sống lại.

"Anhta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy raôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. Bấy giờ người con thưa rằng: "Thưa cha,con thật đắc tội với Trời và với Cha, con chẳng đáng gọi là con cha nữa...".Nhưng người cha liền bảo người giúp việc rằng: "Mau đem áo đẹp nhất ra đâymặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay , xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con dê đã vỗbéo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng!..." (Lc. 15, 20-23).

Chúng tathấy ở đây trí nhớ của Chúa Giêsu dường như không còn làm việc nữa! Ngài quênvô điều kiện, quên tức khắc tất cả quá khứ không hay không tốt của ta, mỗi khichúng ta quay trở về. Ngài chỉ nhớ mỗi người là con Cha Ngài, là em Ngài, nênkhi ta quay lại gặp Ngài, thì tức khắc ta lại được mặc áo vinh hiển sự sống củaThiên Chúa.


Trong dụngôn con chiên bị mất (xem Mt. 18, 12-14; Lc. 15, 4-7), chúng ta thấy lối cư xửcủa Chúa Giêsu tỏ ra không biết tính toán. Một kẻ có 100 con chiên ở giữa đồngtrống mà mất một con, hẳn phải tính toán xem làm sao một con đi lạc lại hơn 99con còn lại. Không những Chúa Giêsu cho rằng 1 con đi mất cũng bằng 99 con cònlại, mà còn đi xa hơn nữa: Ngài bỏ 99 con còn lại đấy để đi tìm cho kỳ được conchiên bị mất. Một mà hơn 99, hẳn Chúa Giêsu không biết làm toán!

Trongchương trình rao giảng của Ngài, không phải số lượng quần chúng đông đảo màChúa Giêsu tìm kiếm, nhưng là những con người; và Ngài đã không tiếc thì giờ đểtrao đổi với từng người, giảng dạy cho một người như chúng ta từng thấy trongcuộc đối thoại với người phụ nữ Samari trên bờ giếng Gia-cóp (xem Gioan 4,1-42).


Chúa Giêsukhông những không cân nhắc tính toán trên số lượng, mà có lúc lời của Ngài đingược lại sự khôn ngoan bình thường của con người.

"Khinào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em hay bà con,hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi.Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt,đui mù. Họ không có gì để đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc... (Lc. 14,12-14).

Trong dụngôn về đồng bạc bị mất (xem Lc. 15, 8-10), người phụ nữ có 10 đồng, nhưngtrong đêm lỡ đánh mất 1 đồng: "bà thắp đèn, quét nhà, moi móc tìm cho bằngđược." - Khi tìm được, thì bất chấp giờ giấc nghĩ ngơi ban đêm của hàngxóm, bạn bè, mời họ phải đến chung vui với mình.

Chúa Giêsuví mình như người phụ nữ tìm đồng bạc bị mất trong đêm; không cần suy tính, luậnlý là đủng đỉnh ngày mai sẽ tìm, dù sao thì cũng còn 9 đồng khác trong tay; nônnóng đem nguồn vui của mình cho người chung quanh không ngại sự nghỉ ngơi trongđêm vắng. Chẳng qua vì Chúa là yêu thương, mà yêu thương của Thiên Chúa cao hơnlý luận con của người.

"Giữatriều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối"(Lc. 15, 10).


Chúa Giêsuđến để loan báo Nước Trời ở gần con người, gần cuộc sống của họ. Thế mà khi giớithiệu Nước Trời với các môn đệ và với người nghe Ngài nói, Ngài lấy dụ ngôn vềNước Trời như người chủ vườn nho thuê thợ làm cho mình trong một ngày (xem Mt.20, 1-16). Người chủ từ tảng sáng đã mướn thợ làm; rồi đến giờ thứ 3, giờ thứ6, giờ 11, mỗi giờ người ấy đều đi tìm mướn thêm thợ (giờ 11 trong lối nói củangười Do Thái thời của Chúa Giêsu tức là buổi cận chiều tối rồi).

Chiều tốiđó, ông chủ, là hình ảnh Chúa Giêsu, bảo người quản lý kêu thợ lại và trả cho mỗingười 1 quan tiền như nhau. Những kẻ làm nhiều giờ trong ngày bực tức vì thấyông chủ nầy không biết gì về kinh tế, tài chánh cả, hơn nữa còn bất chấp lốitính toán và sự công bình thông thường:

"Nầybạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là 1 quantiền sao?...Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ghen tức? Thế là những kẻ đứngchót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàngchót..." (Mt. 20, 13-16).


Không phảitrong xã hội của người Do Thái vào thời Chúa Giêsu còn tại thế, mà ngay giữa xãhội chúng ta, người ta khó lòng chấp nhận chuyện người "đàng hoàng" lạigiao du với lớp người được đánh giá là không "đàng hoàng".

Thời bấygiờ người đồng hương với Chúa Giêsu cho rằng hai giới đặc biệt không "đànghoàng" là những quân thu thuế và người tội lỗi, đặc biệt là các người gáiđiếm. Người tội lỗi bấy giờ còn được xem là những kẻ không lành mạnh về cuộc sốngthân xác, như người phung cùi, tàn tật... Những người Pha-ri-siêu nhiều lần thắcmắc về thái độ sống của Chúa Giêsu và nhắc nhở với các môn đệ Chúa:

"SaoThầy của các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như vậy?"(Mt. 9, 11). "Ông nầy đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng"(Lc. 15, 2).

Theo cácsách Phúc âm ghi lại, thì không những Chúa Giêsu chỉ gặp gỡ, chào hỏi, hay bấtđắc dĩ được mời ăn thì ngại lắm phải chiều người ta, mà thực sự Ngài tự tìm tớinhà người thu thuế, và kẻ tội lỗi, làm thân với họ và ăn ở với họ.

Ông Da-kêulà người "đứng đầu những người thu thuế" (Lc. 19, 2); khi biết ChúaGiêsu đi qua thành phố Giê-ri-cô, ông ấy sợ không chen lấn nổi với đông đảo dânchúng, nên chạy ra đàng trước, trèo lên cây sung để xem Ngài, chẳng qua vì ôngrất lùn. Chúa Giêsu đi qua, nhìn lên cây ấy thấy ông và nói ngay:

"Nầyông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!" (Lc. 19, 5).

Ngườichung quanh xào xáo:
"Nhàngười tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ" (Lc. 19, 7).

Chúa Giêsutự đến để gặp gỡ Da-kêu và loan Tin Mừng:"Hômnay, ơn cứu độ đã đến cho nhà nầy" (Lc. 19, 9)

Và chúngta đều biết Chúa đã chọn 1 trong 12 vị tông đồ của Ngài là Mathêu, trước đó cótên là Lê-vi một người làm nghề thu thuế.Và để giảithích thái độ ngược đời của mình, chính Chúa Giêsu đã nói rõ sứ mệnh của Ngài."Ngườikhoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ýnghĩa câu nầy: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọingười công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi (Mt. 9, 12-13).

6 - Chúa Giê-su thích ăn uống tiệc tùng

Phúc-âmcũng cho chúng ta thấy sự kiện mỗi lần đến nhà nào, gặp ai, đặc biệt là nhữngngười được xã hội xếp loại không "đàng hoàng", Chúa Giêsu lại thườngăn uống. Ngài mở đầu sứ mạng rao giảng công khai bằng việc dự tiệc cưới Cana miềnGalilê (Gioan 2, 1), kết thúc cuộc gặp gỡ chung với các tông đồ trước khi đivào cuộc khổ nạn bằng bữa tiệc ở Giêrusalem gọi là tiệc ly (Mt. 26, 17 và tìếptheo).

Thế nhưnglịch sử nhiều tôn giáo và tâm thức nhiều nền văn hoá không phải đã cho chúng tathấy rằng nói đến thần thánh, đạo đức, tôn giáo thì hẳn phải nói đến ăn chay cầunguyện hay sao!

Luca thuậtlại rằng, sau bữa tiệc lớn tại nhà Lê-vi (tức thánh Mathêu sau nầy) những ngườiPha-ri-siêu và những người thông luật nói với Chúa Giêsu: "Môn đệ ôngGioan năng ăn chay cầu nguyện, môn đệ người Pha-ri-siêu cũng thế, còn môn đệông thì ăn với uống" (Lc. 6, 33). Chúa Giêsu đã dùng những bữa ăn để cứungười tội lỗi như Mađalêna, Da-kêu...

Cái mới củaChúa Giêsu làm cho người Pha-ri-siêu và cả chúng ta khó hiểu đó là tất cả sứ điệpcủa Ngài, không còn phải là ăn chay hay ăn tiệc, nhưng tiên quyết là Yêu thươngphát xuất từ tận đáy lòng mình. Như thánh Augustinô sau nầy tóm tắt trong câu:"Hãy yêu rồi làm gì thì làm" (Ama et fac quod vis).


Do tháiKhông nhữnglui tới bạn bè, với kẻ tội lỗi, lại còn hay dự tiệc với họ, Chúa Giêsu không giữluật lệ của cộng đồng người Do Thái đương thời. Ngài bất chấp luật phải rửa taytrước bữa ăn, đi thẳng vào bàn tiệc nên "ông Pha-ri-siêu lấy làm lạ vì lúcđầu Ngài không rửa tay trước bữa ăn" (Lc. 11, 38). Ðặc biệt trong nhữngngày sa-bát, Ngài hay chữa lành bệnh tật cho người ta, và điều đó đối với ngườiDo Thái đương thời cho là phạm luật. Phúc âm ghi lại nhiều sự kiện như thế, nhưviệc chữa lành người bại tay (Lc. 6, 8-11), chữa người mắc bệnh phù thủng (Lc.14, 1-6), chữa lành một phụ nữ còng lưng (Lc. 13, 14)... Thánh sử Luca ghi rõ:"Ông trưởng hội đường tức tối vì Ðức Giêsu đã chữa lành bệnh vào ngàysa-bát (Lc. 13, 14). Ngài không giữ luật, và các môn đệ theo Ngài cũng không giữluật:

"Vàongày sa-bát, Ðức Giêsu đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ đưa tay bứtlúa ăn. Nhưng có mấy người Pha-ri-siêu nói: "Tại sao các ông làm điềukhông được phép làm trong ngày sa-bát" (Lc. 6, 1-2).

Nhưng trướcnhững lời chỉ trích nầy, Chúa Giêsu trả lời: "Con người làm chủ ngàysa-bát" (Lc. 6, 9). Chúa Giêsu đến để làm trọn lề luật, để ban luật mới làluật yêu thương, là luật có chiều kích nội tâm, để xoá bỏ những lối giải thíchlề luật rắc rối bên ngoài: "Khốn cho các ngươi giả hình, như má tô vôi,bên ngoài trắng trẻo mà bên trong thối tha" (Mt. 23, 13-36).


Trong ToàTổng trấn Phi-la-tô, lúc chịu xử án, Chúa Giêsu bị lính của Tổng trấn chochoàng áo đỏ, đội vương niệm bằng gai để chế nhạo như là kẻ điên cuồng. Nhưngkhông phải chỉ người ngoài, mà ngay cả Phê-rô, người vừa được Chúa Giêsu cử sẽlàm đầu Hội thánh Ngài: "Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng đá, trên tảng đá nầy,Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi..."(Mt. 16, 18), người được Chúa tin yêu như thế cũng không chịu nổi những lời nóinhư điên dại của Chúa Giêsu: "Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiềuđau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, vàngày thứ ba sẽ sống lại" (Mt. 16, 21). Ðiên dại vì gọi môn đệ theo mình, đồngthời thông báo mình phải chịu khổ đau, bị giết chết; và xem ra điên dại hơn nữakhi bảo rằng chết sau ba ngày sẽ sống lại! Và suốt cả các cuốn Phúc âm trangnào cũng làm cho chúng ta ngạc nhiên về thái độ và lời nói khác lạ của Ngài:

"Hãyyêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh emvà cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh má bên nầy, thì hãy giơ cả mábên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Aixin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại... (Lc. 6, 27-31).

Nói như thế,làm sao có thể nghe cho được, khi tâm tư ta còn sống trong tâm trạng "mătđền mắt, răng đền răng"!

Và tôi xinkể cho các bạn kinh nghiệm của tôi về sứ điệp "điên dại" nầy của ChúaGiêsu. Lúc tôi sống những năm tháng tù đày tại quê nhà, có lúc những người canhtù tâm sự cho tôi hay, họ thắc mắc và ngạc nhiên về thái độ vui cười, thân thiệncủa tôi đối với họ: trong hoàn cảnh nầy làm sao có thể thanh thản và dung thứnhư thế được! Tôi đã có dịp chia sẻ các kinh nghiệm đó trong cuốn sách"Năm chiếc bánh, và hai con cá", tôi vừa cho phổ biến trong năm nầy.Nhưng ở đây tôi muốn nói, chính sự "điên dại" của tình yêu thươngThiên Chúa đối với tôi, đối với mọi người là "khuyết điểm" làm tôisay mê hơn cả; sự điên dại đó lôi kéo tôi bước theo Chúa Giêsu!


Một chươngtrình cứu chuộc toàn nhân loại, một dự tính gửi người đi rao truyền Phúc âm chomọi dân nước, mọi thế hệ, thế mà lại chọn và đặt hết tín nhiệm, quyền hành cho Phê-rô,một người chài lưới bộp chộp, ít học rồi còn sợ sệt chối mình nữa!

Và vềphương cách truyền bá, rao giảng nước Thiên Chúa, thì Chúa Giêsu lại dạy cácmôn đệ: "Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực,tiền bạc, cũng đừng có hai áo" (Lc. 9, 3).

Phiêu lưutrong việc tuyển lựa các môn đệ, Chúa Giêsu còn bị ngay các môn đệ Ngài nghi ngờlà quá phiêu lưu. Khi Chúa Giêsu loan báo chương trình Ngài sẽ bị bắt nạp, bịgiết chết và sẽ sống lại trong ngày thứ ba, thì "Các môn đệ buồn phiền lắm"(Mt. 17, 23). Khi Chúa nói với họ: "Nếu các ông không ăn thịt và uống máuCon người, các ông không có sự sống nơi mình" (Gioan 6, 53), thì "nhiềumôn đệ của Ngài liền nói: "Lời nầy chướng ta quá! Ai mà nghe nổi"(Gioan 6, 60). Và, vì thấy lời giảng dạy của Chúa Giêsu khó nghe và phiêu lưuquá, nhiều môn đệ rút lui. Nên Chúa quay hỏi nhóm 12 tông đồ "Cả anh em nữa,anh em cũng bỏ đi sao?" (Gioan 6, 67).

Có lầnkhác, có người lại muốn đi theo Ngài làm môn đệ, nên hỏi: "Thưa Thầy, Thầyđi đâu, tôi cũng xin đi theo". Người trả lời: "Con chồn có hang, chimtrời có tổ, nhưng con người không có chỗ tựa đầu (Lc. 9, 58).

Và cuộcphiêu lưu tột đỉnh của Yêu thương nơi Chúa Giêsu được diễn tả cô động nơi bàica trong thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Phi-líp-phê:

"ÐứcGiêsu Kitô
Vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân phận nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế
Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự (Phl. 2, 6-8).


Mâu thuẫnvì Lời từ Thiên Chúa khác với lời chúng ta.

Làm saochúng ta thấy hợp lý được khi tuyên dương Phúc cho kẻ nghèo, kẻ phải đói, kẻ phảikhóc, kẻ bị người ta oán ghét (xem Lc. 6, 20-22).

"Aimuốn cứu mạng sống mình, thì phải mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi,thì sẽ cứu được mạng sống ấy" (Lc. 9, 24).

Làm sao cóthể ví Nước Thiên Chúa, Nước của Ðấng toàn năng, vô tận với một hạt cải (xemLc. 13, 18-19).

Mà làm saocó thể tuyên xưng là "Con Thiên Chúa, Ðấng hằng sống" lại phải chấpnhận sự chết và chết nhục nhằn trên Thập giá (xem Lc. 23, 70).

Ngày12.10.1998, có một cuộc tĩnh tâm linh mục quốc tế, tại thành phố Monterrey, nướcMexico: 91 giám mục, 1,500 linh mục tham dự. Lúc tôi vừa nói: Tôi yêu các khuyếtđiểm của Chúa Giêsu, các ngài nhìn nhau với vẽ ngạc nhiên, bỡ ngỡ! Nhưng nói đếnđâu các ngài lại cười đến đó, cuối bài các ngài xúm lại quanh tôi và bảo:"Chúng tôi cũng yêu các khuyết điểm của Chúa Giêsu".

**************************

Các bạnthân mến,
Bây giờ, sau khi chúng ta cùng nhau lược qua 10 khuyết điểm của Chúa Giêsu, 10khuyết điểm ghi lại nơi các bản Phúc-âm, tôi lại một lần nữa xác quyết với cácbạn rằng: vì tôi yêu 10 khuyết điểm nầy của Chúa Giêsu, nên chọn Chúa Giêsu làmThầy, làm Mẫu-mực tuyệt đối cho đời tôi. Tôi cũng tâm sự với các bạn rằng, chođến giây phút nầy, tôi không hề có một chút gì ân hận, Chúa Giêsu đã cuốn hútcuộc đời của tôi. Vì Chúa là Tình Yêu đã dẫn lối cho tôi đi, đặc biệt trong nhữngngày tháng tôi cảm thấy xao xuyến, bứt rứt; chúng đã đem lại nguồn vui và hy vọngcho tôi, nhất là trong những giây phút khổ đau, tưởng chừng như không thể chịuđựng nổi. Các bạn biết lý do tại sao không? Vì 10 khuyết điểm đó phát xuất từTình yêu thương mà Thiên Chúa là cha chúng ta ban cho để chúng ta được sống nhờChúa Giêsu:

"Khôngai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạnhữu" (Gioan 15, 13).

Tình yêuđó không nhớ lỗi lầm, không tính toán, không xét nét, không vị kỷ, không phêphán, không câu chấp, không gò bó, không biên giới, không điều kiện; Tình yêuđó yêu điên cuồng đến độ phiêu lưu và hy sinh cả mạng sống mình; tình yêu đókhác với mẫu mực nhỏ hẹp của xã hội và của lối cân nhắc giới hạn của chúng ta.Chúa là Ðấng trọn lành, làm sao có khuyết điểm được, nhưng Chúa lại là tình yêuvô hạn, mầu nhiệm. Trí khôn loài người không hiểu nổi, không tin nổi, nên gọilà khuyết điểm! Khuyết điểm ấy lên đến cùng độ trên thánh giá. Cả 10 khuyết điểmcô đọng vào đó, khi người lính thách đố Chúa: "Nếu ông thật là con ThiênChúa, hãy xuống khỏi Thánh giá để chúng tôi tin" "Chúa Giêsu thinh lặng,lại còn cầu nguyện: "Xin Cha tha cho họ..." Lạy Chúa lúc ấy Chúakhông chết thì làm sao chúng con được sống đời đời.

Tôi khíchlệ các bạn chọn lựa cuộc sống làm chứng 10 khuyết điểm tuyệt vời đó của ChúaGiêsu.

Và để chấmdứt buổi chia sẻ nầy tôi xin kể cho các bạn một sự kiện trong cuộc đời của mộtdanh nhân thế giới đã từng chọn Chúa Giêsu, chọn giáo huấn của Ngài, một giáohuấn mà ông ấy cho là kỳ lạ, mâu thuẫn "Kitô giáo kỳ lạ" (LeChristianisme est étrange, Pascal, Pensées, No 537). Danh nhân ấy là ông BlaisePascal (1623-1662). Khi ông Pascal vừa qua đời vào tuổi 39, người giúp việctrong gia đình xin người chị của ông cho phép mở gấu áo ông mặc lần cuối để xemông thu giấu cái gì trong ấy. Vì mỗi lần thay áo cho ông, chị giúp việc thấyông luôn mở gấu áo cũ lấy một cái gì trong ấy rồi lại tự may vào gấu áo mới.Người chị của Pascal cũng như người giúp việc cắt gấu áo và thấy có một miếnggiấy nhỏ, trên ấy ghi vỏn vẹn câu sau đây:

"Sự sốngđời đời là hiểu biết và yêu mến Ðức Kitô và Ðấng đã sai Người... lửa, lửa, lửa;nước mắt, nước mắt, nước mắt của tình yêu". Ðó là bí quyết của B. Pascal mộtvăn hào, một triết gia, một nhà toán học.

(Ghi lại bài chia sẻ của Ðức Tổng Giám Mục Phanxicô XaviêNguyễn Văn Thuận, sáng thứ Bảy, ngày 12.9.1998, tại nguyện đường Dòng Truyền-GiáoÐức Mẹ Vô Nhiễm (O.M.I), Strasbourg, Pháp trong cuộc họp mặt "Niềm Vui SốngÐạo" của các bạn trẻ Việt Nam Công Giáo sống tại Âu Châu, do Trung-TâmNguyễn-Trường-Tộ tổ chức).
Tác giả Nguyễn Văn Thuận, HY


Nguồn: http://www.dunglac.org

Friday, October 7, 2011

20 Mầu Nhiệm Mân Côi - Rosary










+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Sunday, May 15, 2011

HỐI NHÂN TỰ THÚ LỖI

HỐI NHÂN TỰ THÚ LỖI

Một hội nghị đã được tổ chức tại Blackfriars, Oxford nhân kỷ niệm mười năm ngày mất của thần học gia nổi tiếng Dòng Đa Minh, Herbert McCabe - người đã giải thích rằng nếu con người ý thức mình đã phạm tội, thì tự thân ý thức này đã chứa đựng lòng ăn năn hay sự tha thứ.

Thật điên rồ nếu người ta nghĩ rằng khi chúng ta làm điều tốt thì Thiên Chúa sẽ thưởng công, còn nếu chúng ta làm điều xấu thì Ngài sẽ trừng phạt chúng ta. Tôi muốn nói là nếu những Ki-tô hữu có ý nghĩ rằng Thiên Chúa đối xử với chúng ta theo công trạng của chúng ta thì ý nghĩ ấy thật điên rồ.

Thực sự chẳng kỳ lạ gì khi nhiều người khác nghĩ như thế. Đó là lối nghĩ thông thường nhất về Thiên Chúa, vì Ngài chỉ là một sự phóng chiếu vào trong bầu trời cảm thức luân lý của chúng ta, đặc biệt là cảm thức về tội lỗi. Nhưng tôi không tin Ngài là một Thiên Chúa như vậy, bởi vì nhiều đoạn Tin Mừng mạc khải cho chúng ta về một Thiên Chúa hoàn toàn khác. Cho nên thật điên rồ nếu một Ki-tô hữu nào đó nghĩ rằng Thiên Chúa chỉ là sự phóng chiếu cho những cảm thức luân lý. Nhìn lại chủ đề chính mà Chúa Giê-su rao giảng, bạn sẽ thấy rằng Ngài rao giảng về một Thiên Chúa hoàn toàn khác.

Chúng ta cùng suy xét dụ ngôn nổi tiếng nói về người con hoang đàng (Lc 15, 11-32). Trong dụ ngôn này, người con thứ bỏ nhà, bỏ cha để đi đến một phương trời xa và phung phí tất cả tài sản cha chia cho. Nói chung là anh ta có một quá khứ xa hoa. Sau đó không lâu, anh nhận ra con người thật của anh khi anh nghĩ rằng: “Con không còn xứng đáng được gọi là con cha nữa, xin đối xử con như người làm công cho cha vậy.”

Tội lỗi của anh ta là khước từ hoàn toàn tương quan với cha; thay vì là con, bây giờ anh muốn được đối xử như người làm công để có được chính xác những gì anh đáng được trả. Ở điểm này có hai khía cạnh như sau: thứ nhất là tội đã phạm, thứ hai là nhận ra tội lỗi đó. Thánh Luca đã lập lại điều này hai lần để cho bạn biết được đây chính là điểm mấu chốt của câu chuyện. Điều thiết yếu là người con đã nhận ra lỗi lầm của mình. Tội lỗi ấy đã biến Thiên Chúa thành một ông chủ trả lương, hay một vị thẩm phán.

Tội là điều gì đó biến Thiên Chúa thành một phóng chiếu đối với lỗi phạm của mình. Do đó, chúng ta chẳng bao giờ thấy được Thiên Chúa đích thực. Tất cả những gì chúng ta thấy chỉ là một thứ xét đoán nào đó. Thiên Chúa (Đấng là tất cả ý nghĩa, mục đích và tiêu điểm của hiện hữu chúng ta) đã trở thành kẻ kết án chúng ta. Thiên Chúa đã bị biến thành Satan, bị biến thành kẻ buộc tội, ông chủ, người cân đo việc làm của chúng ta và xét xử chúng ta.

Thiên Chúa chẳng bao giờ thay đổi ý định của Ngài về bạn cả. Chỉ đơn giản là Ngài luôn luôn yêu thương bạn. Điều mà Ngài ngày qua ngày vẫn làm đó là thay đổi tâm ý của bạn về Ngài.

Thật là điên rồ khi người Ki-tô hữu nghĩ Thiên Chúa giống như một vị thần trừng phạt độc ác và chỉ dành riêng cho người phạm tội. Suy nghĩ về Thiên Chúa như thế có thể trở nên một sự thờ phượng Satan. Cho nên thật điên rồ nếu trong Giáo Hội có quan niệm như thế về Thiên Chúa. Điều đó chẳng khác gì quan niệm về Thiên Chúa nơi hỏa ngục. Vì sự đọa đày này chỉ có trong ảo tưởng bị ám ảnh mãi mãi về một Thiên Chúa Lề Luật, về một Thiên Chúa được tạo bởi tội của chúng ta.

Điểm đặc trưng của những tội nhân chính là không biết mình là tội nhân. Họ từ chối chấp nhận và tin rằng họ là tội nhân. Trái lại, họ tìm đủ mọi cách để biện minh và miễn thứ cho chính mình. Mọi cuộc đối thoại nơi hỏa ngục đều là nguyền rủa nhau về những lỗi phạm ghê tởm của nhau, và họ cho rằng họ công chính và đạo đức, nên không bao giờ họ ở nơi như thế. Nỗi buồn tuyệt vọng này ắt hẳn là sự đau đớn nơi hỏa ngục. Cái tạo nên hỏa ngục chính là Thiên Chúa không được nhìn thấy nơi ấy. Tất cả những gì chúng ta thấy chỉ là một Thiên Chúa căm phẫn trừng phạt chẳng khác gì là Satan.

Người con thứ trong dụ ngôn đã thoát khỏi hỏa ngục vì anh đã thấy được tội lỗi của chính mình. Anh đã nhận ra đâu là hình ảnh của Thiên Chúa đối với anh: “Con chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy” (Lc 15, 19). Dĩ nhiên, ngay khi anh thực sự chấp nhận anh là tội nhân, anh không còn cô đơn nữa.[1] Quả vậy, khi bạn biết mình đã phạm tội là lúc bạn ăn năn hay tha thứ hoặc bạn có thể gọi tình trạng này là gì gì cũng được tùy thích. Phần tiếp theo của câu chuyện không phải nói về việc cha tha thứ cho con, mà là về việc cha tổ chức tiệc mừng chào đón con với niềm hoan hỉ. Đây mới chính là Thiên Chúa thực bởi vì Thiên Chúa thực là Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng vô tận. Ngài yêu thương chúng ta một cách vô điều kiện.

Tình yêu của Ngài dành cho chúng ta không lệ thuộc vào những gì chúng ta làm hay chúng ta là ai. Ngài không quan tâm liệu chúng ta có phải là những tội nhân hay không. Chẳng có gì khác biệt đối với Thiên Chúa cả. Ngài chỉ chờ đợi và chào đón chúng ta trong niềm vui và tình yêu. Tội không làm thay đổi thái độ của Thiên Chúa đối với chúng ta. Ngược lại, tội làm thay đổi thái độ của chúng ta đối với Ngài. Tội khiến chúng ta biến Thiên Chúa từ Đấng chỉ biết thương yêu, thành một kẻ trừng phạt độc ác, thành Satan.

Tội là vấn đề muôn thuở đối với chúng ta dẫu cho chúng ta có phải là những tội nhân hay không; nó chẳng bao giờ là vấn đề của Thiên Chúa cả. Vì vậy, rõ ràng Ngài không kết án về tội chúng ta bao giờ.[2] Chính chúng ta mới là những người đưa ra những lời kết án. Chúng ta kết án chính chúng ta. Bởi vì chúng ta thích biện minh và miễn thứ cho chính mình, cũng như thích tự thỏa mãn tính hư danh của chúng ta hơn là để chúng ta được lôi kéo bởi tình yêu vô hạn của Thiên Chúa.

Lòng ăn năn hay sự tha thứ (hãy nhớ rằng chính chúng ta tha thứ cho chính mình) hầu như chính xác là mặt trái của việc miễn thứ (cho chính chúng ta). Chính vì sự miễn thứ này mà giờ đây ở dưới thế con người có quyền tha tội, có sức mạnh để nhận ra lỗi lầm như chính nó là và loại bỏ nó. Còn lòng ăn năn hay sự tha thứ là sự hiểu biết chính mình; đó là một việc vô cùng đau đớn để thấy chính chúng ta là ai và là gì. Chúng ta keo kiệt, ích kỷ, độc ác, vô cảm và ấu trĩ biết chừng nào.

Người con thứ nhận ra chân lý rằng: tội đã biến anh thành kẻ làm công để được hưởng công. Ngang qua nhận thức đơn giản này, tội anh đã không còn nữa. Ngược lại với người con thứ là người con cả: “Đã bao năm trời, con đã làm việc như một nô lệ cho cha và chẳng bao giờ trái lệnh” (Lc 15, 29). Dẫu cho anh trung thành với lề luật và không bao giờ sa ngã thì anh vẫn không nhìn thấy Thiên Chúa như chính Ngài là. Anh xem chính anh như là kẻ làm công. Anh nghĩ anh nên thâu tiền lương từ Thiên Chúa và đòi hỏi Thiên Chúa trả công xứng đáng cho anh.

Ở đây Chúa Giê-su cho chúng ta thấy rằng tình trạng đáng sợ của người tự cho mình là đạo đức và trung thành lề luật một cách sít sao. Vì sự quy – ngã mà anh cho rằng anh đáng được thưởng ngang qua những công trạng và nhân đức của chính anh. Chẳng khác gì hơn người con hoang đàng trong dụ ngôn (chí ít là anh con thứ này đã có được một thời gian hạnh phúc), anh cũng không nhận biết Thiên Chúa đích thực.

Người con thứ có được hạnh phúc hơn vì chính anh ta đã thấy được mình vô ơn, ích kỷ và sa ngã. Những tội mà người con thứ đã phạm có thể dễ dàng được nhận ra đó là những tội. Trong khi đối với người con cả thì tội của anh khó được nhận ra hơn; do đó anh ở trong một tình trạng nguy hiểm hơn. Thiên Chúa và tình yêu của Ngài bị che khuất khỏi người con thứ bởi những khoái lạc ngây dại của xác thịt. Còn đối với người anh cả thì Thiên Chúa bị che khuất bởi sự kiêu ngạo – đặc tính của Sa-tan - của anh.

Nhưng dĩ nhiên là không thực sự dễ dàng cho cả hai, nếu không nói là không thể đối với họ. Một khi bạn tự lừa dối mình bằng tội lỗi, một khi bạn tự tách mình ra khỏi Thiên Chúa (hơn là để chính bạn được thiêu hủy bởi tình yêu Thiên Chúa, chịu thiêu hủy để được tái tạo, chịu đóng đinh để được phục sinh), một khi bạn lẩn tránh tình yêu Thiên Chúa bởi những phòng thủ của chính bạn, bởi sự thỏa mãn mù quáng của cái tôi, thì tất cả những điều đó đều đưa bạn đến hư vô và không thể nhận ra tội của mình.

Chính nhờ quyền năng của Thiên Chúa và tình yêu của Ngài đã đến được với người con thứ ngay khi anh còn trong tội lỗi, mà anh đã có thể nhận ra chính anh là ai. Đây chính là lòng ăn năn; đây chính là sự tha thứ.

Đừng bao giờ để mình bị lừa dối trong lối suy nghĩ rằng: nếu bạn ăn năn và hối lỗi thì Thiên Chúa sẽ đến và tha thứ cho bạn. Bạn cũng đừng nghĩ rằng lời khẩn cầu của bạn chạm đến Thiên Chúa và thay đổi tâm ý của Ngài về bạn; do đó, Thiên Chúa tha thứ cho bạn. Không bao giờ như thế cả. Thiên Chúa chẳng bao giờ thay đổi ý định của Ngài về bạn cả. Chỉ đơn giản là Ngài luôn luôn yêu thương bạn. Điều mà Ngài ngày qua ngày vẫn làm đó là thay đổi tâm ý của bạn về Ngài. Đó là lý do tại sao bạn hối lỗi. Đó chính là sự tha thứ của bạn. Không phải vì bạn xưng tội mà bạn được tha thứ. Nhưng đúng hơn, chính vì bạn được tha thứ mà bạn xưng tội để nhận ra chính bạn là ai.

Khi bạn đến tòa giải tội theo như nghi thức Hòa Giải thì đó là dấu hiệu bạn nhận biết bạn là ai, chứ không phải bạn đến tòa giải tội để tội của bạn được tha thứ. Bạn không đến xưng tội để tội của bạn được tha thứ, mà bạn đến để ăn mừng - tạ ơn vì tội của bạn được thứ tha. Khi bạn chạy đến tòa giải tội là lúc bạn mặc áo đẹp nhất, tay đeo nhẫn, chân mang giày và tâm ý bạn được ngây ngất. Bởi vì sự mù quáng và vô tri của bạn không còn nữa; thay vào đó bạn được nhìn thấy tình yêu của Thiên Chúa dành cho bạn.

Việc ăn năn và nhận ra tội lỗi của chính mình cũng giống như việc bạn tin vào tình yêu Thiên Chúa, xóa đi hình ảnh một Thiên Chúa trừng phạt độc ác và tin vào một Thiên Chúa đích thực, Đấng luôn luôn yêu thương bạn một cách nhưng không. Bạn sẽ phải công nhận rằng chính niềm tin của bạn vào tình yêu trước sau như một của Thiên Chúa đã khiến bạn mạo hiểm nhìn vào tội lỗi của mình. Vì thế, bạn chấp nhận sự thật về chính mình. Dù gì đi chăng nữa Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương bạn.

Khi thừa nhận tội lỗi của bạn là lúc bạn tuyên xưng niềm tin vào tình yêu Thiên Chúa dành cho bạn cách cá vị. Xưng thú tội lỗi của mình trước Giáo Hội ngang qua bí tích Hòa Giải chính là một hình thức của Kinh Tin Kính. Bạn đang tuyên xưng rằng: “Tôi thực sự là người như tôi là;[3] cho dù tôi như thế nào đi chăng nữa Thiên Chúa vẫn yêu thương tôi; Ngài không quan tâm đến tội lỗi của tôi, nhưng Ngài quan tâm đến chính tôi.” Thiên Chúa là tình yêu, một tình yêu vĩnh cửu, không thay đổi, vô điều kiện và vô hạn; tình yêu ấy Ngài dành cho tôi và cho tất cả mọi tội nhân. Đó chính là lời tuyên xưng duy nhất khi tôi đọc kinh Tin Kính.


Jb Phan Đức Định
Ngày 01 tháng 5 năm 2011
Chuyển ngữ từ một chương trong “Faith Within Reason”
của tác giả Herbert McCabe OP (1926-2001),
được xuất bản bởi Continuum

[1] Anh thoát khỏi tình trạng hỏa ngục và anh nhận ra anh còn có Cha. [chú thích của người dịch]
[2] Đức Chúa Giê-su hỏi người phụ nữ ngoại tình: "Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao? "
Người đàn bà đáp: "Thưa ông, không có ai cả."
Đức Giê-su nói: "Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa! " (X. Ga 8, 2-11). [chú thích của người dịch]

[3] Nghĩa là tôi là một tội nhân. [chú thích của người dịch]

..............................................................................................

Friday, April 29, 2011

大きな信頼を与えてくださる

説教:マルコ16,9-15 (click here to read and listen this passage) (Xem tiếng việt phía dưới)

多くの人は、神を信じるのにふさわしい理由がないと思っているので、神を信じません。哲学と神学を勉強するとき、私たちは神の存在を、そして神が何であるか誰であるかを考えてしようとしています。それでも、人間としては神を信じる理由がどれほど多くあっても、どこまでも満足しそうもないと思います。つまりはただ恵みによって、信仰があるのです。

今日の福音の中で、マグダラのマリアは生きておられるイエスに会ったということを弟子たちに示しました。でも、彼らはイエスの復活のことを信じませんでした。また、弟子たちのうちの二人がエマオの田舎から戻ってきて、復活されたイエスに会ったという経験を弟子たちに話したのに、彼らはそのことも信じませんでした。その後、十一人が食事をしているとき、イエスが現れ、その不信仰とかたくなな心をお咎めになりました。

しかし、イエスは、弟子たちの不信仰をよく知っていながら、弟子たちに御自身の教会をお任せになりました。弟子たちは、主のおかげで、信任の厚い人になりました。聖パウロは自身の不思議な経験をもとに次のように語りました。「わたしたちは、このような宝、いわゆるイエスの福音、を土の器に納めています。この並外れて偉大な力が神のものであります。」(2コリント4,7)

弟子たちは本当に不信仰が薄いにもかかわらず、聖霊によって、必要な勇気を受けたので、恐れずにすべての造られたものに復活されたイエスの福音をのべ伝えるわけです。わたしは自分の召出しを考えてみれば、その恵みが与えられたことに深く感謝しようと思っています。すべては神の恵みです。主が私たちに大きな信頼を与えてくださっているのです。

ですから、このミサの中で、神様が私たちの心を変え、福音を熱心にのべ伝える弟子として下さるよう、恵みを願いたいと思います。


(2011年4月30日)
....................................................................................................

Chia Sẻ Tin Mừng (Mc 16, 9-15) trong Thánh Lễ

Chúa Tin Và Trao Phó Cho Chúng Ta

Có người hỏi Chúa Phục Sinh rằng: Thưa Chúa, trước khi Chúa về trời, Chúa có kế hoạch gì cho Giáo Hội mới này không?
Chúa trả lời: Ta không có kế hoạch gì cả ngoài trừ một điều duy nhất là ban Thánh Thần xuống trên Giáo Hội này.
Người kia tiếp tục hỏi: Những người hèn nhát, kém tin như nhóm mười một làm sao có thể duy trì và loan truyền Tin Mừng của Chúa được?
Ta tin những người ấy sẽ làm được, Chúa đáp.
Chúa mong muốn Giáo Hội của Chúa sau này sẽ như thế nào? Người ấy lại hỏi.
Chúa đáp lại rằng: Điều này tùy thuộc vào chính những người trong Giáo Hội.

Cuộc phỏng vấn tưởng tượng trên đây có thể giúp chúng ta ý thức và cảm nhận nhiều hơn về sự tín thác của Chúa vào chính chúng ta. Ngài đặt vào tay chúng ta một kho tàng vô cùng quý giá để chúng ta giữ và chia sẻ cho cả nhân loại. Mặc dù Chúa biết rằng lòng dạ con người hay thay đổi, trái tim dễ bị khô cứng và tâm trí dễ chối bỏ Ngài, nhưng Ngài vẫn tin tưởng vào nghị lực và ý chí của con người.

Trong thế giới này, nhiều người cho rằng họ không thấy có lý do thỏa đáng nào để tin Chúa cả. Khi học triết học và thần học, chúng ta cố gắng chứng minh sự tồn tại và hiện hữu của Chúa, cố gắng suy luận Thiên Chúa là ai. Dù những lý luận đó có nhiều đến đâu đi chăng nữa, lý trí con người vẫn cảm thấy chưa thỏa đáng để tin có Chúa và tin Chúa đang hoạt động trong thế giới. Niềm tin của chúng ta chỉ có được là nhờ Ân Sủng, nhờ nghiệm thấy Niềm Tin của Chúa dành cho chúng ta.

Trong Tin Mừng, khi chứng kiến Chúa Giê-su làm bao việc kỳ diệu lạ lùng, thánh Phê-rô và các tông đồ cảm thấy trong lòng hoan hỷ và rất tự hào vì được làm môn đệ Chúa. Khi Chúa loan báo về những bách hại, về cái chết và phục sinh của Ngài, các ông không tin điều đó sẽ xảy ra. Có lẽ chính vì thế mà trong Bữa Tiệc Ly, tất cả các ông đều mạnh dạn tuyên bố rằng: Thầy đi bất cứ đâu, con cũng sẽ đi theo; dù có chết cho Thầy, con cũng sẵn sàng. Tuy nhiên, tinh thần thì mạnh mẽ, nhưng thể xác thì yếu đuối lắm. Lúc sốt sắng, chúng ta thường khấn hứa thật nhiều. Nhưng khi đối diện với thực tế, chúng ta thấy mình dễ buông xuôi và thất hứa. Quả thật, khi Chúa Giê-su bước vào cuộc khổ nạn, niềm xác tín hùng hồn trước kia của các tông đồ đã không còn nữa. Thay vào đó, các ông sợ sệt, mất niềm tin và quên những lời dạy của Chúa.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, bà Maria Madalena làm chứng rằng Chúa đang sống và bà đã gặp Ngài. Các môn đệ đã không tin. Sau đó, hai môn đệ trên đường Emmau trở về báo tin rằng Chúa đã sống lại thật rồi. Nhưng các môn đệ vẫn không tin. Cuối cùng Chúa hiện ra với chính các môn đệ và Ngài khiển trách các ông không tin và cứng lòng. Tuy nhiên, ngay sau khi lời khiển trách ấy, Chúa đã trao cho các ông môt sứ điệp của Tin Mừng Phục Sinh rằng: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo."

Dẫu biết rằng các môn đệ rất yếu lòng tin và lòng mến vào Chúa, nhưng Chúa vẫn không ngần ngại trao phó tất cả công trình mà Ngài đã gầy dựng vào tay các ông. Thiên Chúa quá tin con người dù rằng con người nhiều tội lỗi và cứng tin. Thánh Phao-lô đã cảm nghiệm điều này rất sâu khi ngài chia sẻ với người dân Cô-rin-tô rằng: Những kho tàng ấy (tức Tin Mừng) được chứa đựng trong những bình sành dễ vỡ là chính chúng ta để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa. (x. 2 Cr 4, 7).

Các tông đồ tuy kém tin thật nhưng nhờ Chúa Thánh Thần được ban cho các ông, các ông đã có được sự can đảm cần thiết để ra đi loan báo Tin Mừng cứu độ cho muôn dân. Hình ảnh các tông đồ được tường thuật trong sách Công Vụ Tông Đồ (mà chúng ta đọc trong những ngày này) thật đáng được ngưỡng mộ và ca khen. Vì Tin Mừng các ông không còn sợ hãi nữa để làm chứng về Chúa Phục Sinh. Thậm chí các ông sẵn sàng chết vì Chúa Ki-tô Phục Sinh. Chúng ta thấy rằng tuy chúng ta yếu hèn và dễ vấp ngã, nhưng trong tâm khảm chúng ta vẫn có điều gì đó rất mạnh mẽ với ý chí vươn lên mỗi ngày. Cho nên lòng người không hẳn bao giờ cũng xa Chúa, chối Chúa. Chúa tin chúng ta và chúng ta cũng tin Chúa.

Trong Thánh Lễ này, chúng ta tiếp tục cầu xin Chúa biến đổi chúng ta thành những khí cụ sắc bén trong tay Thiên Chúa nhằm phục vụ và loan báo Tin Mừng.

Ngày 30. 4. 2011
.................................................................................................................................

Friday, March 25, 2011

Hãy Đến Với Chúa Giê-su Qua Lời Ngài

Bài viết sau đây đã được tôi viết cách đây 7 năm. Lúc ấy tôi đang ở cuối giai đoạn Ứng Sinh Dòng Tên. Thật bất ngờ và cảm động vì một Sr đã cất công đánh lại bài viết này cùng với hai bài khác "Bước theo Thầy Giê-su" và "Kinh nghiệm một tháng với người Phong" và gởi lại cho tôi. Sr nhắn nhủ rằng các bài viết này đã giúp ích Sr ấy phần nào đó và Sr muốn gởi lại cho tôi để đọc và hồi tâm. Trước đây, tôi đã tặng Sr tập sách hiệp thông, trong đó có vài bài viết của tôi.

Quả thật, những bài viết như thế này đã đi vào quên lãng đối với tôi. Tôi không nhớ là để chúng lạc mất phương trời nào. "Cám ơn Sr đã gởi chúng lại cho con!" Giờ đây, đọc lại chúng, tôi cảm thấy nghẹn ngào trước Chúa. Thực vậy, tôi đã xin lỗi Chúa nhiều lắm và cầu xin Người ban thêm niềm tin để kiên trì suy niệm Lời Chúa, sống và thực thi Thánh ý Người. Con cũng cầu nguyện cho Sr được ơn bình an và đầy can đảm để cùng với Chúa Giê-su vác thập giá ngang qua căn bệnh của Sr. Xin Người chữa lành Sr và cho Sr sớm được bình phục.
.....................................................................................................

HÃY ĐẾN VỚI CHÚA GIÊSU QUA LỜI NGÀI

“Tuổi trẻ là tuổi đẹp nhất trong đời”. Tuổi trẻ là mùa xuân của cuộc đời. Trong bốn mùa, mùa xuân là mùa thật tươi tốt, mùa nhựa sống; là mùa các cây cối sinh hoa nảy lộc. Kìa những cây non đầy khí lực đang mơn mởn mọc lên tươi tắn, thoảng thơm mùi nhựa. Kìa những hoa sặc sỡ đang khoác trên mình những chiếc áo đẹp đẽ nhất. Tôi nhìn lại chính mình. Tôi đang lớn lên, mỗi ngày thêm một mới mẻ và có nhiều dự định to tát cho tương lai. Tôi muốn trở thành một bác sĩ giỏi để để đem lại niềm vui cho bệnh nhân, cho tất cả mọi người. Tôi cũng muốn trở thành một nhà thám hiểm. Khám phá những vẻ đẹp của đất trời, của cuộc sống; hay trở thành một nhà truyền giáo đi khắp mọi nơi trên cùng cõi trái đất, để đem Tin Mừng đến cho những người chưa nhận được ánh sáng Chúa Kitô… Có thể nói, tôi cũng đang nảy nở như hoa mùa xuân.

“Chúng ta hãy vui mừng vì tuổi trẻ”, đó là một câu hát của người xưa. Sự vui vẻ như ánh sáng mặt trời bao giờ cùng chứa đựng một nghị lực nuôi sống. Nó xóa đi những cái 'mốc meo', xua đi những cái 'thối tha hôi hám'. Sự vui vẻ cao thượng làm mất những bản năng thấp hèn thường đưa đến tội lỗi. Nhưng, đừng lầm lẫn vui vẻ với “khoái lạc”. Sự vui vẻ đích thật chỉ có thể giải sáng từ một lương tâm trong sạch.

Tuy nhiên, cuộc sống đâu phải bao giờ cũng như tôi tưởng, đâu phải bao giờ cũng hạnh phúc êm trôi và thành công mãi. Đôi khi tôi gặp thất bại, đau buồn. Nhiều lần tôi cảm thấy cô đơn, bị người khác hiểu lầm, hay lắm khi tôi bị cha mẹ rầy la, thầy cô bắt phạt, bề trên khiển trách… Bạn có bao giờ có những cảm giác như vậy chưa? Bạn cũng đã từng lo lắng hay gặp khó khăn chưa? Chắc hẳn là có. Tôi vẫn thường lo lắng trước những kỳ thi, lo lắng cho gia đình. Sống trong cộng đoàn, tôi lo lắng mình phải sống thế nào để cho vừa ý anh em, đem lại niềm vui cho họ. Đi sâu hơn nữa, tôi nghĩ tôi sống trên trần gian này với ý nghĩa gì? Phận sự chính của tôi là làm gì?... Tất cả có thể gây cho tôi chán nản rồi bỏ cuộc.

Thế rồi tôi tự nhủ: “Này ta thử đến với Chúa Giêsu xem, may ra ta có cảm nhận được những điều gì hấp dẫn chăng?”. Tôi nhớ có một vị thánh đã nói rằng: “Nếu bạn gặp được Chúa Giêsu thì mọi lo toan cố gắng, mọi băn khoăn của bạn sẽ được giải quyết. Niềm vui và hạnh phúc đích thực là được gặp Chúa Giêsu”. Thế là tôi bắt đầu đến với Chúa Giê-su qua Kinh Thánh. Sau đó, ngang qua những vui buồn trong đời sống và các biến cố, tôi cố gắng tìm Thánh ý của Người. Hằng ngày, cho dù vất vả bận rộn như thế nào đi nữa, tôi dành một ít thời gian để lắng nghe Lời Chúa. Nhờ đó, tôi đã có thể lấy lại sức mạnh sau những lần vấp ngã, thấy được những niềm vui và cũng có thể nhận được những lời khuyên, những lời an ủi Chúa Giêsu đầy thương mến. Kìa, Người đang nhìn tôi với đôi mắt yêu thương. Người giang rộng đôi tay để ôm tôi vào lòng.

Đây là cảm nghiệm của tôi cũng như một vài bạn trẻ khác trong những bước đầu đến với Lời Chúa. Tuy còn sơ sài và chưa có chiều sâu nhưng nhờ đó, tôi ý thức được tầm quan trọng của Lời Chúa đối với đời sống của tôi. Đó cũng là cơ hội giúp tôi có được sự chuẩn bị để bước vào một đời sống cộng đoàn Giêsu hữu, để đem Tin Mừng đến những người chưa nhận ra Chúa Kitô, như Lời Ngài dạy và truyền lại trước khi lên ngự bên hữu Chúa Cha.

Chúa Giêsu đang tha thiết mời gọi ta đến với Lời Ngài, các bạn ạ! Chúng ta đáp lại lời mời gọi đó như thế nào? Có mấy ai trong bạn trẻ chúng ta trên thế giới này nhận ra rằng: đến với Lời Chúa là điều tiên quyết nhất trong cuộc sống. Có thể nói, chúng ta dễ chú trọng đến những vấn đề vật chất hơn, thăng tiến bản thân trong học hành, phát triển tài năng, cố gắng chu toàn trách nhiệm nghề nghiệp của mình, và lắm khi cũng dễ đi theo những phong trào để tìm lợi ích riêng cho mình. Chúng ta dễ bị thế giới lạc thú này cuốn hút. Vấn đề đạo đức nói chung, hình như chúng ta để thả nó trôi theo nhịp sống. Chẳng hạn như việc đọc Lời Chúa thì hầu hết mọi người đều làm ngơ, tìm cách để biện hộ cho mình.

Tôi và bạn cùng xem lại mục đích làm người của mình. Mục đích của con người là gì nhỉ? Là tán dương, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa, nhờ đó mà cứu rỗi linh hồn mình (Linh thao số 23). Tất cả những gì tôi và bạn có đều là phương tiện để phục vụ cho mục đích ấy mà thôi. Để đạt được mục đích ấy, không còn cách nào khác hữu hiệu hơn là đến với Chúa Giêsu qua việc lắng nghe Lời Ngài. Tất cả niềm vui và nỗi buồn, những chiến thắng và thất bại sẽ qua đi. Mọi vật chất trên thế gian này cũng sẽ qua đi, “phù vân chỉ là phù vân”. Chỉ có Lời Chúa là tồn tại mãi mãi và đem cho ta hy vọng đời đời.

Là con cái trong gia đình, chúng ta phải lắng nghe và vâng lời ông bà cha mẹ. Đến trường, là học sinh, chúng ta lắng nghe và vâng lời thầy cô, và có thể cả lời bạn bè nữa. Những lời hướng dẫn cao đẹp sẽ giúp ta sống một đời sống cao đẹp. Trong mọi lời dạy ấy, thì lời dạy cao quí nhất là lời dạy của Thiên Chúa. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã nói qua các ngôn sứ để chuẩn bị cho dân Ngài tiếp nhận Đấng Cứu Thế. Khi đến thời đã định, Thiên Chúa đã nói với nhân loại “hết cả nỗi lòng mình” nơi chính Con Một Ngài là Đức Kitô, Lời của Thiên Chúa.

Lời Chúa là nguồn lương thực nuôi sống chúng ta. Trong Lời của Ngài, Thiên Chúa đã che dấu tất cả kho tàng của Người trong đó. Vì vậy, ở trong Lời Ngài, tôi có thể tìm thấy tất cả những gì tôi cần. Thử nhìn xem các vị thánh, không có vị nào có thể biến đổi và thúc đẩy mà không nhờ Lời Chúa. Cụ thể như thánh I Nhã tổ phụ Dòng Tên, sau khi đọc được Lời Chúa trong sách Kinh Thánh và cuộc đời Chúa Giêsu, ngài đã được biến đổi hoàn toàn từ một con người ăn chơi phóng đãng, đi tìm những sự phù phiếm thế gian, trở thành một con người tôi trung và là hiệp sĩ của Chúa Kitô. Ngài là một trong bốn vị thánh làm cột mốc cho lịch sử hơn 2000 năm của Hội Thánh. Chúng ta, là những người đang đi theo đường hướng của ngài để đến với Thiên Chúa, cũng hãy noi gương ngài năng đọc Lời Chúa để được đổi mới.

Thánh Eprem Xiria đã sánh ví Lời Chúa như một nguồn suối liên tục trào tràn những dòng nước mát liệm. Bất cứ ai đến với nguồn suối này cũng kín múc được một lượng nước đủ làm thỏa cơn khát, để rồi có thể tiếp tục ra đi. Nhưng mãi mãi nguồn suối cứ trào lên những dòng nước khác, và lượng nước được đem đi sẽ chẳng là gì nếu sánh với lượng nước còn lại. Chúng ta hãy mặc lấy tâm trạng của người khách lữ hành khát vọng đi tìm nguồn suối ấy, rồi cất bước lên đường với niềm vui thỏa vì biết mình có thể trở về bất cứ lúc nào, và chắc chắn sẽ tìm được những hớp nước làm thỏa cơn khát.

Ta hãy đến với Lời Chúa như Thiên Chúa vẫn kêu gọi và mong đợi. Lời Chúa nói ta qua mọi điều trong đời sống của ta và trong cuộc sống xung quanh ta. Tuy nhiên, cuốn Kinh Thánh là quyển sách ghi lại Lời Chúa mà ta cần phải biết đến và tìm hiểu. Nào ta hãy cầm lấy, giở ra, đọc và suy ngẫm những lời Chúa nói với chúng ta qua đó.

Đối với tôi, Lời Chúa là một cái gì đó rất quan trọng và thật cần thiết. Không một ngày nào tôi bỏ đọc và suy ngẫm lời Chúa. Mặc dầu, có nhiều lần tôi không hiểu Lời Chúa và cảm thấy Lời Chúa đối với tôi thật khô khan, nhưng tôi vẫn cố gắng và duy trì công việc đó, với hy vọng một lúc nào đó Chúa Giêsu sẽ mạc khải đoạn Tin Mừng ấy cho tôi. Mạc khải này sẽ giúp tôi hiểu Lời Chúa một cách sâu sắc và trở thành một tông đồ nhiệt thành, can đảm như các vị tông đồ sơ khai khi được Chúa Giêsu Phục Sinh giải thích Lời Chúa cho. Nếu ta tìm được rất nhiều điều trong Tin Mừng để làm giàu cho mình, ta đừng nghĩ rằng trong Lời Chúa chẳng còn gì khác ngoài những điều đã tìm thấy. Chúng ta chỉ mới khám phá được một trong muôn vàn điều mà thôi. Sau khi đã trở nên giàu có nhờ Lời Chúa. Ta cũng đừng nghĩ Lời Chúa sẽ vì thế mà bị nghèo nàn đi, vì đó là nguồn phong phú không thể múc cạn được, nhưng ta hãy tạ ơn vì sự sung mãn của Lời Chúa. Có một thánh nhân đã nói: “Hãy vui mừng vì anh em đã được no đầy, nhưng đừng buồn bã vì những kho tàng của Lời Chúa siêu việt trên mức anh em có thể lãnh thụ.”

Sau đây là một số “số khẩn” mà ta có thể gọi bất cứ lúc nào thấy cần:
+ Khi ta buồn: xin hãy gọi Ga 14.
+ Khi ta phạm tội: xin hãy gọi Tv 51.
+ Khi ta lo lắng: xin hãy gọi Mt 6,9-34.
+ Khi ta cảm thấy Thiên Chúa xa cách mình: xin hãy gọi Tv 139.
+ Khi cô đơn và sợ hãi: xin hãy gọi Tv 23.
+ Khi thất vọng về cuộc sống: xin hãy gọi Rm 8,31.
+ Nếu thấy mất can đảm trong công việc: hãy gọi Tv 121. (Sưu tầm)

Vâng đúng đấy các bạn ạ! Lời Chúa là một kho tàng chứa đầy những điều bí ẩn và vô cùng chan chứa nguồn sống cho những ai tìm kiếm và đến với. Dẫu rằng Thiên Chúa đã ban cho tôi và các bạn trẻ của Chúa rất nhiều ân huệ, nhưng chúng ta có nhận ra hồng ân đó hay không? Thử nhìn lại, chúng ta đã lãnh nhận từ Chúa những điều gì? Mới nhìn qua, tôi thấy mình không thể đếm hết tình yêu Thiên Chúa dành cho tôi. Vậy tôi phải đáp lại như thế nào? Có lẽ điều làm đẹp lòng Người là đáp lại bằng thái độ yêu thích cầu nguyện, thích đọc Lời Chúa… Đó là sự đáp trả bằng tình yêu sâu thẳm. Với sự thôi thúc mạnh mẽ của Chúa Giêsu, tôi sẵn sàng bỏ đi tất cả để đến với Chúa và thực hiện lời mời gọi của Ngài.

Năm 2004
J.B.Phan Đức Định
...............................................................................................

Tuesday, March 22, 2011

Bước Theo Thầy Giê-su

BƯỚC THEO THẦY GIÊSU


Lạy Chúa, mọi sự tác động từ bên ngoài làm cho con hiểu, con say, con quyết rồi cũng ra không nếu không có Chúa thúc đẩy từ sâu thẳm nội tâm của con. Nếu không có Chúa Phục Sinh hiện diện bên con và trong con thì những điều được coi như soi sáng hay hiểu biết kia cũng chẳng đem lại lợi ích gì cho linh hồn con và cho sự sống dời đời của con.
Nhìn lại một năm qua kể từ sau đại linh thao 30 ngày cũng như qua các cuộc thực nghiệm và gần đây nhất là linh thao năm tám ngày, tôi nhận được nhiều ơn soi sáng trí nhớ, trí hiểu và lòng mến đối Chúa Giêsu. Nhờ đó tôi biết phải đặt mình trong tay Chúa như thế nào và sắp xếp cuộc đời mình theo ý Chúa ra sao. Một điều nữa không thể không chia sẻ là sự chiến đấu chống lại những thế gian xác thịt vẫn hằng theo tôi như đỉa đói, để gần, để yêu, và bắt chước Chúa như những gì được soi sáng và đánh động trong linh thao.

Qua linh thao tôi như hiểu biết hơn về Chúa Giêsu, Đấng mà tôi ao ước theo mà ngày từ thời gian đầu tìm hiểu ơn gọi tôi đã có lòng muốn như thế. Mỗi khi tôi nhận được hiểu biết hơn về Chúa Giêsu là mỗi lần đức tin và đức cậy của tôi bị thách đố. Điều vừa nói phải giúp tôi triển nở như thế nào trong đời sống hiện thực của mình. Thật là khó. Cái biết và cái làm xét về thế cân bằng thì chúng lệch nhau quá sức. Lạy Chúa, mọi sự tác động từ bên ngoài làm cho con hiểu, con say, con quyết rồi cũng ra không nếu không có Chúa thúc đẩy từ sâu thẳm nội tâm của con. Nếu không có Chúa Phục Sinh hiện diện bên con và trong con thì những điều được coi như soi sáng hay hiểu biết kia cũng chẳng đem lại lợi ích gì cho linh hồn con và cho sự sống đời đời của con.

Điều ma qua linh thao cũng như trong suốt thời gian gần đây, tôi luôn để tâm suy nghĩ là cuộc tự hiến của Chúa Giêsu.Tôi hiểu về cuộc tự hiến đó như thế nào?

Khởi đi từ mầu nhiêm nhập thể : Chúa Giêsu chính là Ngôi Lời Nhập Thể. Không có Ngôi Lời thì không có gì được tạo thành. Nhờ Ngôi Lời mà muôn vật được tồn tại và quy hướng về Người. Từ thuở đời đời, Ngôi Hai luôn ở trong tư thế sẵn sàng để nhập thể làm người. Chỉ cần Chúa Cha nói: Chúng ta hãy cứu chuộc loài người, là Ngôi Con vâng lời ngay.

“Nhưng khi thời gian tới hồi viên mãn,
Thiên Chúa đã sai Con mình tới,
sinh làm con một người đàn bà.
và sống dưới lề luật,
để chuộc những ai sống dưới lề luật,
hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa Tử.” (Gl 4,4-5)

Và : ‘Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là con Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế…” (Pl 2,6-8).

Đó là con đường để giải thoát mọi người khỏi ác thần và đưa mọi người trở về cùng Chúa Cha. Đó là con đường hồi phục lại chức vị làm con Thiên Chúa cho loài người, cho bất kỳ ai tin vào Người.

Với thân xác phục sinh của Chúa Giêsu Kitô, bây giờ Người có thể Nhập thể bất cứ lúc nào, bất cứ không gian nào, và bất cứ “ai”. Vì con người luôn luôn cần được cứu. Lúc này đây, chứ không lúc nào khác… Hãy lắng nghe, hãy tìm kiếm để gặp gỡ Người; hãy thi hành và tham gia vào chương trình cứu độ của Người. Đừng trì hoãn nữa!

Kế đến là cuộc ẩn dật 30 năm của Chúa tại Nazareth. Tôi thiết nghĩ giai đoạn này quí giá cho tôi biết bao. Nó thực và rất gần gũi với tôi trong thời gian này. Chúa Giêsu cũng như tôi đang khám phá ơn gọi của đời mình và học biết để kinh nghiệm được Thiên Chúa là Cha yêu thương hết thảy mọi người. Nhưng rất tiếc Tin Mừng nói rất ít về đời sống âm thầm lặng lẽ này của Đấng Cứu Thế. Tuy nhiên, nơi đây tôi cũng học được sự kiên nhẫn, lòng tin tưởng và say mê đời sống cầu nguyện với Thiên Chúa Cha của Đức Giêsu.

Và, sự tự hiến của Chúa Giêsu ngang qua cuộc khổ nạn, cái chết và phục sinh của Người lôi cuốn tôi hơn cả. Ngay trong thời gian linh thao, tôi đã cầu xin và tập luyện để hiểu biết ý nghĩa mầu nhiệm cao cả này và để yêu mến nó hơn. Tôi cầu nguyện và sách thiêng liêng tôi đọc là bốn Tin Mừng nói về cuộc thương khó và phục sinh của Chúa Giêsu. Thiên Chúa đã soi sáng cho tâm trí ngu muội của tôi về con đường cứu độ của Người ngang qua cuộc tự hiến mà đỉnh cao là cuộc thương khó.Con đường cứu độ mở cho tôi thấy sự khôn ngoan, thánh thiện và tình yêu cao cả của Thiên Chúa làm người.Người cứu thế giới bằng chính sự sống của Người, chẳng tiếc chi cho con người tội lỗi.Người hiện diện trong Thánh Thể dưới hình bánh rượu để hiến dâng cả Thịt Máu nuôi sống con người. Nhờ thế, con người mới có cơ hội cải thiện đời sống của mình để được hạnh phúc và trở nên con cái Thiên Chúa, đáng ngợi khen, tôn kính và phụng sự Người, khi ngước nhìn lên Thánh giá, ngước nhìn lên bàn thờ trong Thánh lễ và ngắm nhìn những con người nhờ Thần khí Chúa mạc khải đã hiến dâng cuộc đời cho người khác, cho cuộc sống vì yêu mến Chúa Giêsu. Đó là cách tốt nhất Thiên Chúa cứu con người. Không còn cách nào khác vì Thiên Chúa yêu thương và tôn trọng tự do của họ.

Ai đón nhận và ở lại trong Thầy thì có sự sống và sinh hoa trái
vì không có Thầy, anh em không thể làm gì được. (x. Ga 15,5)

Cả cuộc đời Chúa Giêsu là một cuộc tự hiến và đỉnh cao là Thánh giá. Tôi có đón nhận và yêu mến cuộc tự hiến đó không? Chỉ có hai cách hoặc hai con đường: một là không yêu thì kết quả là cái chết đời đời; hai là yêu chân thật thì tôi sẽ được sự sống vĩnh cửu và sống trong Đấng Tạo Thành cũng là Đấng Cứu Chuộc.Từ trong Thánh Thể Chúa Giêsu mời gọi:
Này là Mình Thầy bị phó nộp vì con
Này là Máu Thầy đổ ra để cứu con khỏi thế gian, xác thịt và tội lỗi.
Con hãy làm việc này để nhớ đến Thầy.

Lời mời gọi đó, sự tự hiến đó diễn ra hằng ngày lẽ nào tôi lại thờ ơ? Cho dầu trái tim có bị chai cứng đến mức nào thì cũng phải rung động trước cử chỉ vô cùng cao đẹp đó chứ? Thế nhưng, những lời đó được nói lên qua Giáo Hội trong mỗi Thánh lễ vẫn chẳng thấm vào tôi, vẫn không hoán cải tôi. Tại sao? Nhiều khi nghi thức truyền phép vẫn chỉ là nghi thức bởi quá quen. Có phải tôi kiêu ngạo quá chăng?

Tất cả những gì Chúa Giêsu đã sống và đã lao tác vì tôi khiến linh hồn tôi rất sung sướng và hạnh phúc. Tôi ao ước và kiên nhẫn thực tập lối sống của Chúa và những lời Người dạy để mỗi ngày triển nở hơn trong ơn gọi làm môn đệ Chúa.

Ai muốn theo Ta hãy cùng lao nhọc với Ta, cũng chịu khổ với Ta thì sẽ cùng Ta đi vào trong vinh quang. Những lời đó cứ vang vọng trong tâm thức tôi. Và tôi cứ để nó tự do vang lên để nhắc nhớ tôi rằng: Tôi đang đi theo Chúa Giêsu chịu vác Thập giá chứ không theo một Chúa Giêsu nào đó khác.

Sự chiến đấu của hai thế lực với hai giá trị khác nhau trong tôi vẫn khốc liệt. Những giá trị trong đời sống mới với Chúa Giêsu đi vào tôi thì tức khắc những xấu xa đã thống trị tôi sẽ vùng dậy. Con người cũ ấy bắt đầu lộ diện chống lại con người mới. Trong Linh thao tôi nhận ra con người cũ ấy bị tội lỗi che lấp quá nhiều. Những tội lỗi ấy là một sức mạnh tôi không tự gỡ ra được. Tôi loay hoay, vội vã loại nó ra nhưng thất bại nối tiếp thất bại. Sau một thời gian dài tập luyện điều chỉnh ngược lại những giá trị không thuộc về Chúa Giêsu, tôi bỗng ngạc nhiên: Ô! Nó vẫn còn đây! Vâng tôi nhận thấy những giá trị đó vẫn bám lấy tôi như đỉa đói.

Tội lỗi và thế gian luôn luôn ở bên và tìm cách hại tôi. Tôi chỉ cần thờ ơ với Chúa, thiếu tin Chúa một chút thôi là nó nhảy vào xui khiến tôi ngay. Cả nó và Ân sủng đều hiện diện ngay trong nội tâm tôi. Nó lôi kéo tôi hướng về và tìm kiếm những cái tầm thường trong thế gian này, thuộc bản tính mau hư nát của tôi. Thậm chí nó đưa tôi lên cao, mơ mộng suy nghĩ những điều rất hay, rất đẹp trong tu đức cũng như trong công việc tông đồ… Nhưng thực tế thì chưa thể như thế được. Mục đích của nó là lôi kéo tôi xa cách thực tại là đang tìm Chúa. Rồi có khi những lúc sốt sắng tôi khiêm nhường làm điều này điều kia thì nó cũng đi theo để đưa ra ý kiến này ý kiến nọ với mục tiêu là tìm chút gì đó vinh dự cho mình. Bây giờ, nhờ ơn Chúa tôi thấy rõ hơn những sự mưu độc của nó. Nó luôn làm rối loạn ý hướng và nội tâm của tôi.Tôi khinh ghét nó. Tôi nguyền rủa nó. Còn Ân sủng thì luôn động viên tôi hãy kiên trì và tin tưởng hơn.

Con người tôi có nhiều mảng, lúc thế này, lúc thế kia; khi sốt sắng, khi sầu khổ; trong cầu nguyện, trong đời sống thường nhật. Làm sao để thống nhất nó lại để đời sống của mình luôn kết hợp với Chúa Giêsu trong yêu mến như Tổng Hội 34 đề cập trong nghị quyết số 8? Lời Chân Lý của Chúa Giêsu ngang qua Chúa Thánh Thần hoạt động trong Giáo Hội sẽ là đèn hướng dẫn tôi. Do đó, tôi tha thiết xin Chúa cho tôi yêu mến đời sống cầu nguyện. Đối với Chúa Giêsu, cầu nguyện quí giá vô cùng. Đây là điều tôi nhận được trong Linh Thao qua suy ngắm đời Chúa. Đỉnh cao của cầu nguyện là giây phút hiến dâng xác hồn: “Lạy Cha, con phó dâng linh hồn con trong tay Cha.” Và đời sống cầu nguyện cũng đòi hỏi sự kiên nhẫn và từ bỏ rất nhiều. Những điều Chúa dạy như từ từ đi vào tâm trí tôi rồi hồn tôi. Thống nhất con người tôi là lúc tâm trí tôi, linh hồn bị chi phối hoàn toàn bởi Chân lý Chúa. Ngay cả trong vô thức, lúc bộc phát, Chân lý Chúa cũng chỉ dẫn tôi. Đó cũng là điều mà thánh Paul đã nói trong 1 Cr 6,7: “Ại đã kết hợp với Chúa thì nên một tinh thần với Người” .

Trong khi thực tập về sự hiểu biết và lòng yêu mến cuộc tự hiến của Chúa, tôi nhận thấy Thập giá xuất hiện khắp nơi trong suy nghĩ, trong tư tưởng xấu chợt đến, trong đối thoại gặp gỡ với người khác, trong lúc ăn, ngủ, chơi, trong mệt mỏi, được khen, được chê… Tất cả đều do cái xác thịt, thế gian trong tôi gây ra. Thỉnh thoảng do những hoàn cảnh khách quan từ bên ngoài đưa đến. Có lẽ Chúa muốn thử thách tôi về một điều gì đó. Nếu chối bỏ những khó khăn, những yếu đuối trong tôi hoặc trách móc hoặc bất đắc dĩ vì một lý do nào đó, thì tôi cảm thấy không bình an. Như thế thánh giá lại càng nặng thêm mà tôi vẫn cứ vác nó chứ không đẩy cho ai khác vác thay được. Rồi có khi tôi chuẩn bị bài hoặc chuẩn bị những lý lẽ để tranh luận hay chuẩn bị một tiến trình rất kỹ lưỡng nhưng lúc bắt tay vào việc tôi cảm thấy như phải chịu đựng một cái gì đó (có thể chủ quan, có thể khách quan). Tuy nhiên, Chúa Giêsu vẫn là sức mạnh và là nguồn động lực cho tôi. Người yêu tôi và muốn tôi chia sẻ một điều nho nhỏ: Tập khiêm nhường để biết chịu đựng và hy sinh.

Những điều mà tôi chia sẻ ra đây, có những điểm tôi chưa thực hiện được nhưng tôi cũng muốn nói lên để mình thêm ý thức về con đường mình đi, để rồi chấp nhận nó và đoạt chiếm nó làm của mình. Thiết nghĩ rằng điều cốt yếu trong cuộc tự hiến của Chúa Giêsu là lắng nghe tiếng Chúa Cha kêu mời và mau mắn thi hành không trì hoãn. Cho nên, tôi phải tập và kỷ luật bản thân để luôn thinh lặng đúng lúc, đúng cách và tìm nghe tiếng gọi của Chúa.

Cuối cùng hướng đến giây phút tôi cam kết cả đời tôi dâng hiến cho Chúa trước Giáo Hội và Dòng, tôi cảm thấy rất hạnh phúc nhưng cũng vừa lo. Cũng có nhiều thần khí khác nhau xuất hiện buột tôi phải chọn lựa, không phải chỉ chọn giữa điều xấu và điều tốt, giữa đi theo Chúa hay đi con đường nào khác nhưng mà chính yếu cao hơn là phải chọn lựa giữa điều tốt và điều tốt hơn. Đó lại là một thách đố đòi hỏi phải có sự bình tâm và lòng yêu mến Chúa Giêsu đạt đến một mức độ nào đó. Cho dù khó khăn phài chiến đấu như thế nào, một lòng tôi vững bước theo đường Giêsu, con đường Thập giá cũng là con đường cứu thoát.

Cuối năm 2005
J.B. Phan Đức Định
........................................................................................................

Facebook Twitter Delicious Favorites More

 
Lên đầu trang
Xuống cuối trang