I want to love you more!

Saturday, April 28, 2012

Mười Nét Đặc Trưng Nổi Bật Của Dòng Tên

Vào những năm gần đây thường thấy xuất hiện những nỗ lực tìm cách thu thập một vài nguyên tắc nổi bật trong các văn bản của thánh I-Nhã, vốn được coi là những đặc tính thường hằng của một hội dòng mà ngài đã sáng lập. Dĩ nhiên một danh sách loại đó giả thiết có những yếu tố chung cho mọi hội dòng trong Giáo Hội Công Giáo, bao gồm sự trung thành tuân giữ những lời khấn tu trì thường tình: khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Mười đặc tính sau đây có thể coi như là bản tóm kết về điều được coi như riêng biệt nhất của tinh thần thánh I-Nhã:

1. Tận hiến cho vinh quang Thiên Chúa, một Thiên Chúa luôn cao cả hơn, mà ta chẳng bao giờ có thể chúc tụng và phục sự đủ. Điều này khiến cho Giêsu hữu cảm thấy như có một sự lo toan thánh thiện, một nỗ lực không ngừng nghỉ đến làm tốt hơn, để hoàn thành nhiều hơn nữa, hay là “magis” như trong tiếng La-tinh. I-Nhã có thể được coi như một con người bị “nhiễm Chúa” theo nghĩa là ngài lấy “vinh quang lớn hơn của Chúa” làm tiêu chuẩn tối cao cho mọi công việc, dầu lớn hay nhỏ.

2. Một tình yêu thân thiết đối với Chúa Giêsu Kitô và một ước muốn được xếp vào hàng ngũ những bạn thân của Ngài. Trong Linh Thao, Giêsu hữu không ngừng cầu xin để hiểu biết Chúa Giêsu rõ ràng hơn, yêu mến Người nhiều hơn và bước theo Người gần kề hơn. Khi giảng dạy tại các thành phố ở Italia, các bạn hữu đầu tiên đã cố gắng bắt chước nếp sống của các môn đệ mà Chúa Giêsu đã sai đi loan báo Tin Mừng trong các thành phố ở Galilêa.

3. Hoạt động trong và cho Giáo Hội, bằng cách luôn đồng cảm với với Giáo Hội trong sự vâng phục các mục tử của Giáo Hội. Xuyên suốt qua các Hiến Pháp, I-Nhã nhấn mạnh đến việc dạy giáo lý “vững chắc hơn và được chấp thuận nhiều hơn” để cho các học viên có thể nhận một giáo thuyết “chắc chắn và bảo đảm hơn.”

4. Sự ứng trực luôn sẳn sàng để cho Giáo Hội định đoạt, sẳn sàng để làm việc bất cứ nơi nào, vì sự thiện lớn hơn và phổ cập hơn. Khi nhìn Dòng Tên như một đạo quân thiêng liêng của Đức Giáo Hoàng, thánh I-Nhã nhìn thấy toàn thể thế giới, một cách nào đó, như môi trường hoạt động của ngài. Được linh hướng bởi viễn tượng bao trùm vũ trụ, ngài không chấp nhận những sự phân loại dựa trên biên giới quốc gia hay liên hệ sắc tộc.

5. Sự hợp nhất hỗ tương. Giêsu hữu phải nhìn thấy chính mình như thành phần của một thân thể nối kết với nhau bởi sự hợp nhất trí tuệ và tâm hồn. Trong Hiến Pháp, thánh I-Nhã khẳng định rằng Dòng Tên không thể đạt mục tiêu của mình, nếu các phần tử không được nối kết bởi một tình yêu sâu xa giữa họ và với thủ lãnh. Trong lĩnh vực này, nhiều người trích dẫn thuật ngữ mà thánh I-Nhã dùng để chỉ các bạn đầu tiên: “những người bạn hữu trong Chúa.”

6. Ưu tiên cho thừa tác vụ thiêng liêng và tư tế. Dòng Tên là một dòng tư tế, mọi thành viên đại thệ phải được truyền chức linh mục, mặc dù sự cộng tác của các “trợ sĩ” linh vụ và thế vụ được đánh giá cao. Trong việc chọn lựa các thừa tác vụ, thánh I-Nhã viết: “sự thiện thiêng liêng phải được chuộng hơn sự thiện thể lý,” và chúng dẫn đến “mục đích cuối cùng và siêu nhiên” hơn.

7. Nhận định. I-Nhã là bậc thầy trong đời sống thực dụng và trong nghệ thuật quyết định. Ngài cẩn thận phân biệt giữa mục đích và phương tiện, bằng cách chọn lựa những phương tiện thích hợp nhất để đạt mục đích đang nhắm đến. Trong việc xử dụng các phương tiện ngài luôn áp dụng nguyên tắc: “tantum…quantum,” theo nghĩa: “bao lâu nó trợ giúp” chớ không hơn nữa. Trong bối cảnh này ngài dạy kỷ luật của sự “dửng dưng” (bình tâm – indifference) theo nghĩa siêu thoát khỏi bất cứ điều gì không được tìm kiếm vì chính nó.

8. Thích nghi, uyển chuyển. I-Nhã luôn cẩn thận chú ý đến thời gian, nơi chốn và con người mà ngài đang đối diện. Ngài lưu đến việc xếp đặt các lề luật tổng quát như thế nào để có thể cho phép sự uyển chuyển khi áp dụng.

9. Trân trọng khả năng nhân bản và tự nhiên. Mặc dù I-Nhã ưu tiên dựa trên các phương tiện thiêng liêng, như ân sủng thần linh, cầu nguyện và thừa tác vụ bí tích, nhưng ngài cũng chú trọng đến các tài năng tự nhiên, kiến thức, văn hoá và cách hành xử lịch sự như các tặng phẩm phải được sử dụng cho việc phụng sự và làm vinh danh Thiên Chúa. Vì lý do này, ngài bày tỏ một sự chú tâm đặc biệt đối với việc giáo dục.

10. Một tổng hợp độc đáo giữa đời sống hoạt động và chiêm niệm. Cha Jerome Nadal (1507-1580) nói đến thực hành của Giêsu hữu là “tìm kiếm sự hoàn thiện trong cầu nguyện và thao luyện thiêng liêng để giúp người thân cận, và bằng việc giúp họ này, thâu đạt toàn thiện hơn nữa trong cầu nguyện, để có thể giúp tha nhân nhiều hơn nữa.” Theo Nadal, đó là một ân sủng đặc biệt cho toàn Dòng Tên là chiêm niệm không chỉ trong những lúc cô tịch nhưng cả trong hoạt động, nhờ đó mà “tìm kiếm Thiên Chúa trong tất cả mọi sự.”

(Theo Hồng y Avery Dulles, S.J.)
Vũ, S.J.

Monday, April 23, 2012

Ai đã thành lập Giáo Hội Việt Nam?

Câu hỏi trong khuôn khổ lịch sử khách quan:
Ai đã thành lập Giáo Hội Việt Nam?

LTS Tập San Định Hướng : Nhật báo Công Giáo Pháp La Croix ngày 18/1/1996 tường trình về chuyến viếng thăm chính thức của phái đoàn hàng giáo phẩm Công Giáo Pháp đến Việt Nam. Phái đoàn do Tổng Giám Mục Joseph Duval, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Pháp hướng dẫn. Ký giả Frédéric Mounier viết rằng: “Cho đến ngày 28-1, các Giám Mục Pháp sẽ gặp các Giám Mục Việt Nam. Chuyến đi sẽ dẫn họ từ Hà Nội đến Huế. Dẫu có lời yêu cầu của họ, chính quyền không cho phép họ đi đến miền Nam. Đức Cha Duval nhấn mạnh đến “bổn phận” của Giáo Hội Pháp đối với Giáo Hội huynh đệ Việt Nam. “Giáo Hội này có gốc từ Pháp, nó đã được thành lập nhờ những nỗ lực của các nhà truyền giáo Pháp”. Như thế trong tinh thần của những người đã khai sáng nên Giáo Hội này, đây đúng là một cuộc hành hương”. Mười Linh Mục của Hội Thừa Sai Balê đã chết tử đạo tại đây, và đã được phong thánh...”.

Lối tường trình sự kiện và nội dung câu trích dẫn lời phát biểu (nhấn mạnh) của Giám Mục Joseph Duval đã dấy lên một câu hỏi cho Roland Jacques, một nhà nghiên cứu về lịch sử Giáo Hội Việt Nam: trên bình diện khách quan của lịch sử, có những vấn đề nào cần lưu ý về lời phát biểu này?. Tháng 2-96, Roland Jacques đã viết thư cho Đức Tổng Giám Mục Joseph Duval để trình bày về quan điểm của mình liên quan đến lời phát biểu đó.

Một bản văn tóm lược bức thư này đã được đăng trên nhật báo La Croix vào tháng 6-1997. Nguyên bản bức thư được Nguyễn-Đăng-Trúc, dịch ra Việt ngữ và đăng trên Tập San Định Hướng số 14 / Winter 1997 Pp 120-124- * Tập San Đinh Hướng, Trung Tâm Văn Hóa Nguyễn Trường Tộ

Giáo Hội Công Giáo Việt Nam có phải phát xuất từ Pháp không?

Ts Roland Jacques

Gs khoa trưởng Phân khoa Giáo Luật,

Đại hc Công Giáo St Paul, Ottawa , Canada

Thư gởi Đức Cha Joseph Duval,

Chủ Tịch Hội Đồng Các Giám Mục Pháp.

Kính Đức Cha,

Nhật báo Công Giáo La Croix ngày 18-1-1996 đã cho phổ biến một bài báo ký tên Frédéric Mounier với tựa đề: “Giáo Hội Pháp quay lại với Giáo Hội của Việt Nam ”. Cơ hội để có bài báo này, một bài báo vốn rất đáng lưu ý, là cuộc khởi hành của một phái đoàn Giám Mục Pháp đi Việt Nam . Ký giả trích dẫn trong ngoặc kép những lời phát biểu mà Đức Cha đã nói để giải thích lý do chuyến viếng thăm này: “Giáo Hội này có gốc từ Pháp, nó đã được thành lập nhờ những nỗ lực của các nhà truyền giáo Pháp”. Có lẽ người ta đã méo mó những lời nói của Đức Cha, nhưng dẫu sao một sự xác quyết như thế là một sự sai lầm lịch sử, và là một phương cách rất đáng tranh cãi để chuẩn bị khung cảnh (thuận lợi) cho cuộc gặp gỡ.

Ai đã thành lập nên Giáo Hội Việt Nam ?

Trả lời cho câu hỏi có tính cách lịch sử này, phải khẳng định (sans ambiguité) rằng các vị thành lập, kể từ năm 1615, là những giáo sĩ dòng Tên của tỉnh dòng Nhật Bản, tỉnh dòng có tính cách quốc tế trong việc tuyển chọn (nhân sự) và thuần túy Bồ Đào Nha trong các mối lệ thuộc về mặt pháp lý. Từ thế kỷ 16, các vị thừa sai Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha thuộc nhiều Hội dòng tu khác nhau đôi lúc đã cố thử mở đường rao giảng Phúc Âm, nhưng phải đợi đến phương pháp và sự kiên trì quyết tâm của các tu sĩ dòng tên để thấy được những hy vọng đó được cụ thể hóa. Khi những vị người Pháp đầu tiên – các tu sĩ Joseph Francis Tissanier và Pierre Jacques Albier – đi tàu biển đến xứ này vào năm 1658, thì có gần 70 vị truyền giáo gồm tám quốc tịch đã tiếp tục nhau đến trước, trong số đó có 35 vị người Bồ Đào Nha, 19 vị người Ý và 7 vị người Nhật. Vào chính thời gian này, theo những ước tính lạc quan nhất, thì số người Kitô hữu Việt Nam đã có trên 100.000 rải rác trong vài trăm cộng đoàn địa phương. Những người giáo dân được đào tạo kỹ lưỡng hướng dẫn họ; (những giáo dân này) có đủ khả năng để đương đầu với những hoàn cảnh khó khăn nhất; ngay từ các năm 1644 đến 1645, họ đã có những vị tử đạo của họ, đó là những vị tử đạo đầu tiên với một danh sách rất dài.

Thật sự có sự kiện là lịch sử được viết theo lối người Pháp cố nêu lên sự nghiệp to lớn này cho một mình cha Alexandre de Rhodes. Tuy nhiên cần thiết phải đặt lại con người truyền giáo nổi danh này trong khung cảnh thực (của lịch sử). Ngài sinh tại Avignon, lãnh địa của Giáo Hoàng, cha Rhodes cũng không phải người Pháp như trường hợp của thánh François de Sales, dẫu ngài thuộc nền văn hóa Pháp như vị kia. Ngài vào Hội Dòng Chúa Giêsu tại Roma, và chính lý lịch Roma này đã cho phép ngài được đi đến Đông Phương vào một thời kỳ mà người Pháp không có quyền. Khi cha Rhodes đến Việt Nam vào năm 1624, các nền tảng xây dựng Giáo Hội Kitô giáo đã được thành lập vững chắc tại vùng miền Trung; công trạng lớn lao của ngài là đã đưa cuộc truyền bá Phúc Âm đến miền Bắc xứ này; ở đây ngài chỉ lưu lại một thời gian duy nhất từ năm 1627 đến năm 1630 và đó là một thành quả lớn lao cho việc truyền giáo. Ngoài ra, tên tuổi ngài được gắn liền với các công trình ngữ học về tiếng Việt nhờ những tác phẩm ngài đã xuất bản tại Âu Châu vào năm 1651. Trong lãnh vực này cũng như trong công việc truyền giáo nói riêng, sự thành công của ngài lệ thuộc vào công trình của các vị tiên phong đi trước ngài. Đây là một công trình tập thể rõ rệt, không thể gán cho công lao một xứ nào riêng, dẫu người Bồ Đào Nha gián tiếp đã là những bậc thầy thi công, cũng như họ là những người thợ đông nhất.

Hội Dòng Truyền Giáo Ngoại Quốc Paris (MEP) và các vị tử đạo

Khởi từ năm 1664 (miền Trung Việt Nam) và 1666 (miền Bắc), Hội Dòng Truyền Giáo Ngoại Quốc Paris đã cống hiến một thế hệ thứ ba các người thợ Phúc Âm, và đặc biệt những vị Giám Mục đầu tiên mà Roma muốn ban cho Giáo Hội còn trẻ này. Tiếp đó, các Cha đường du Bac đã đóng một vai trò có tầm vóc quan trọng to lớn không thể chối cãi được trong Giáo Hội của Việt Nam. Nhưng không vào một thời kỳ nào bất kỳ, kể cả dưới thời thực dân Pháp trong các năm của thập niên 1860, các vị truyền giáo Pháp không phải đã là những vị truyền giáo duy nhất tại Việt Nam. Tác giả bài báo đã nhắc lại rất đúng rằng mười trong các vị truyền giáo Pháp đã bị giết chết vì đức tin trong thế kỷ 19; cách đây vài năm, họ được tôn vinh vào bậc thánh tử đạo cùng một lúc với 96 vị tử đạo tại Việt Nam. Nhưng khi nói đến các vị truyền giáo ngoại quốc chịu tử đạo, có lẽ đúng hơn đừng cho người ta hiểu rằng người Pháp là những vị tử đạo đầu tiên, và chỉ có người Pháp mà thôi. Trong nhóm các vị thánh đã được Giáo Hội tôn vinh, thực ra có 11 vị dòng Đaminh gốc Tây Ban Nha, mà những vị lâu đời nhất trong họ đã từng chịu án tử ngay từ năm 1745, nghĩa là 88 năm trước thánh François Isidore Galelin. Còn những vị tu sĩ Dòng Tên thuộc tỉnh dòng Nhật bản, họ lại đã đi trước tất cả các vị này, với hai vị tử đạo người Ý vào năm 1723, ba vị người Bồ Đào Nha và một vị người Đức vào năm 1737; sự việc Roma đã chưa chuẩn y sự tử đạo của hai nhóm này lệ thuộc vào những hoàn cảnh lịch sử, trong đó các nạn nhân này không can dự gì.

Những người Công Giáo Việt Nam và nước Pháp

Trong các lời nói của Đức Cha, không phải chỉ có sự sai lầm lịch sử là đáng tiếc. Thật vậy, hẳn nhiên là vô tình, nhưng Đức Cha đã mang lại một thế dựa cho một luận cứ từng gây nên nhiều tai hại cho người Công Giáo Việt Nam, và luận cứ đó từ mấy năm nay lại dấy lên lại một cách mạnh mẽ. Lời mỉa mai của dân chúng hoặc cả đến các giáo sư đại học tên tuổi đã từng kịch liệt chứng minh về sự thông đồng giữa Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp và sự lan tràn của đạo Công Giáo vào Việt Nam. Nhiều đợt, người Công Giáo xứ này đã phải đương đầu với lời luận tội như là “đảng” của người ngoại quốc, đóng vai kẻ thù của xứ sở. Hôm nay cũng như hôm qua, ở Việt Nam và ở hải ngoại, nhiều người thuộc nhiều chủ trương ý hệ khác nhau dường như muốn thấy tôn giáo nhập cảng từ trong các gói hành lý của người Pháp (theo lối nói của họ) tan biến đi. Nếu ngày nay các mối liên hệ của Giáo Hội Việt Nam với các Giáo Hội anh em trên toàn thế giới còn gặp nhiều khó khăn, một phần lớn cũng do sự nghi ngờ luôn hiện hành này, do chính sự bất công lịch sử trong đó chúng ta, những người Pháp, không phải là bàn tay hoàn toàn sạch.

Vào lúc lên đường đến Việt Nam, Đức Cha thấy phải khẩn trương để nhắc lại cho Giáo Hội xứ này một nguồn gốc người Pháp nặng tính cách giả thiết này hay không? Làm như thế, các lời nói của Đức Cha dường như lại đặt Giáo Hội ấy trong một vị thế mãi lệ thuộc và mang nợ với Giáo Hội Pháp, hoặc nước Pháp nói gọn như thế; các lời ấy củng cố cho những lập trường của những người gièm pha Giáo Hội Việt Nam, và làm giảm uy thế những luận chứng của tất cả những ai đang nỗ lực thiết định lại chân lý lịch sử hầu trả lại danh dự cho Giáo Hội Việt Nam.

Kính thưa Đức Cha, không phải như thế, Giáo Hội Việt Nam không phải phát sinh do người Pháp. Giáo Hội đó là con của Giáo Hội hoàn vũ đúng theo mẫu mực điển hình của nó; trong thời còn non trẻ, Giáo Hội này đã hưởng được sự cung ứng của nhiều nền văn hóa và truyền thống dị biệt, cho phép nó dần hồi bước đến tuổi trưởng thành theo con đường đặc thù của mình. Ngày nay, khi phải đương đầu với nhiều vấn đề, Giáo Hội này ưu tiên phải (tự củng cố), xác định vị thế đặc thù của mình, tìm lại chỗ đứng trọn vẹn trong lòng của xã hội Việt Nam và trong nền văn hóa có từ ngàn năm của Việt Nam, với những giá trị mà Giáo Hội đó đang ôm sẵn và chúng cũng là những giá trị của Công Giáo tính phổ quát. Trong viễn tượng này, Giáo Hội Việt Nam không cần đến một quyền lực đỡ đầu, nó không chờ đợi để được “bú mớm” bởi bất cứ ai. Người Công Giáo Việt Nam chỉ cần tìm lại những mối liên hệ hiệp thông, chia sẻ và liên đới cụ thể hơn và thiết thực hơn với những người Kitô hữu anh em trên thế giới, như bao nhiêu người Công Giáo trong tất cả các xứ khác. Chúng ta hết lòng mong mỏi rằng cuộc viếng thăm của phái đoàn Giám Mục Pháp sẽ cống hiến điều đó.

*****

Saturday, March 31, 2012

Đôi Khi - Thông Vi Vu

Tuesday, March 13, 2012

Con Tim Khát Khao

Con Tim Khát Khao - Rufino
Nhạc Cầu Nguyện

  1. Hồi Chuông Nguyện Cầu

  2. Dâng Mẹ

  3. Ca Khúc Trầm Hương

  4. Dâng Chúa Trời

  5. Lễ Dâng

  6. Tình Chúa Cao Vời

  7. Ở Lại Thôi, Chúa Con Ơi

  8. Tâm Tình Hiến Dâng

  9. Dấu Ấn Tình Yêu

  10. Trông Cậy Chúa

  11. Lời Thiêng


Nghe cả Album

Wednesday, January 18, 2012

10 KHUYẾT ĐIỂM CỦA CHÚA GIÊSU

  1. Chúa Giêsu kém trí nhớ!
  2. Chúa Giêsu không biết làm toán
  3. Chúa Giêsu không sành luận lý
  4. Chúa Giêsu không biết kinh tế tài chánh
  5. Chúa Giêsu làm bạn với kẻ tội lỗi
  6. Chúa Giêsu thích ăn uống, tiệc tùng
  7. Chúa Giêsu không giữ luật Do thái
  8. Chúa Giêsu như điên cuồng
  9. Chúa Giêsu phiêu lưu
  10. Chúa Giêsu có những lời giảng dạy xem ra mâu thuẫn

Lúc sắptrút hơi thở, Chúa Giêsu có cuộc đối thoại cuối cùng với hai người gian phicùng bị treo trên thập giá cạnh ngài. Một trong hai người đó thốt lên lời nầy vớiChúa Giêsu: "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đếntôi". Và Chúa nói với anh ấy: "Tôi bảo thật với anh, hôm nay, anh sẽđược ở với tôi trên Thiên đàng" (Lc. 23, 42-43).

Chúa Giêsukhông sưu tra lại lý lịch người đó để nhớ xem hắn gian ác đến mức độ nào, khôngcân nhắc tội nặng, nhẹ để châm chước hay tạm ra hình phạt thế nào đó cho thíchđáng. Người gian phi kêu nài Ngài nhớ, thì Ngài "nhớ" một điều là thấyngười ấy trước mắt, còn tất cả mọi điều gian ác trước đó Ngài đã quên hết, quênđến độ ngay hôm đó hứa ngay Nước Thiên đàng cho anh ta. Các thánh nói: tên nầysuốt đời ăn trộm, đến lúc chết nó ăn trộm nước thiên đàng luôn!

Trong Phúcâm chúng ta gặp lại nhiều chứng tích về việc Chúa Giêsu kém trí nhớ như thế.Nhưng qua chuyện ngụ ngôn người cha nhân hậu, sự kiện đó rõ ràng. Thánh sử Lucakể rằng người con út trong hai con của cha già đã lấy hết phần gia tài của nó,để bỏ nhà ra đi sống đời phóng đảng, quên cha, quên anh. Ðến khi tiêu hết tiền,gặp năm đói, thì quay trở về nhà, xin khai thú tội lỗi mong cha già xét tìnhcha con mà tha thứ...

Người cha(là hình ảnh Chúa Giêsu), không kể đến tội cũ, chỉ trông ngóng chờ con; thấycon đằng xa, thì chạy ra đón. Con có thú tội, thì cũng không cố nghe để hạch hỏitội cũ mà ra lệnh cho tôi tớ: lấy áo đẹp, giày tốt, nhẫn quý mang lại cho cậu,làm thịt con bê béo dọn tiệc vì con ta chết mà nay nó sống lại.

"Anhta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy raôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. Bấy giờ người con thưa rằng: "Thưa cha,con thật đắc tội với Trời và với Cha, con chẳng đáng gọi là con cha nữa...".Nhưng người cha liền bảo người giúp việc rằng: "Mau đem áo đẹp nhất ra đâymặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay , xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con dê đã vỗbéo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng!..." (Lc. 15, 20-23).

Chúng tathấy ở đây trí nhớ của Chúa Giêsu dường như không còn làm việc nữa! Ngài quênvô điều kiện, quên tức khắc tất cả quá khứ không hay không tốt của ta, mỗi khichúng ta quay trở về. Ngài chỉ nhớ mỗi người là con Cha Ngài, là em Ngài, nênkhi ta quay lại gặp Ngài, thì tức khắc ta lại được mặc áo vinh hiển sự sống củaThiên Chúa.


Trong dụngôn con chiên bị mất (xem Mt. 18, 12-14; Lc. 15, 4-7), chúng ta thấy lối cư xửcủa Chúa Giêsu tỏ ra không biết tính toán. Một kẻ có 100 con chiên ở giữa đồngtrống mà mất một con, hẳn phải tính toán xem làm sao một con đi lạc lại hơn 99con còn lại. Không những Chúa Giêsu cho rằng 1 con đi mất cũng bằng 99 con cònlại, mà còn đi xa hơn nữa: Ngài bỏ 99 con còn lại đấy để đi tìm cho kỳ được conchiên bị mất. Một mà hơn 99, hẳn Chúa Giêsu không biết làm toán!

Trongchương trình rao giảng của Ngài, không phải số lượng quần chúng đông đảo màChúa Giêsu tìm kiếm, nhưng là những con người; và Ngài đã không tiếc thì giờ đểtrao đổi với từng người, giảng dạy cho một người như chúng ta từng thấy trongcuộc đối thoại với người phụ nữ Samari trên bờ giếng Gia-cóp (xem Gioan 4,1-42).


Chúa Giêsukhông những không cân nhắc tính toán trên số lượng, mà có lúc lời của Ngài đingược lại sự khôn ngoan bình thường của con người.

"Khinào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em hay bà con,hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi.Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt,đui mù. Họ không có gì để đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc... (Lc. 14,12-14).

Trong dụngôn về đồng bạc bị mất (xem Lc. 15, 8-10), người phụ nữ có 10 đồng, nhưngtrong đêm lỡ đánh mất 1 đồng: "bà thắp đèn, quét nhà, moi móc tìm cho bằngđược." - Khi tìm được, thì bất chấp giờ giấc nghĩ ngơi ban đêm của hàngxóm, bạn bè, mời họ phải đến chung vui với mình.

Chúa Giêsuví mình như người phụ nữ tìm đồng bạc bị mất trong đêm; không cần suy tính, luậnlý là đủng đỉnh ngày mai sẽ tìm, dù sao thì cũng còn 9 đồng khác trong tay; nônnóng đem nguồn vui của mình cho người chung quanh không ngại sự nghỉ ngơi trongđêm vắng. Chẳng qua vì Chúa là yêu thương, mà yêu thương của Thiên Chúa cao hơnlý luận con của người.

"Giữatriều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối"(Lc. 15, 10).


Chúa Giêsuđến để loan báo Nước Trời ở gần con người, gần cuộc sống của họ. Thế mà khi giớithiệu Nước Trời với các môn đệ và với người nghe Ngài nói, Ngài lấy dụ ngôn vềNước Trời như người chủ vườn nho thuê thợ làm cho mình trong một ngày (xem Mt.20, 1-16). Người chủ từ tảng sáng đã mướn thợ làm; rồi đến giờ thứ 3, giờ thứ6, giờ 11, mỗi giờ người ấy đều đi tìm mướn thêm thợ (giờ 11 trong lối nói củangười Do Thái thời của Chúa Giêsu tức là buổi cận chiều tối rồi).

Chiều tốiđó, ông chủ, là hình ảnh Chúa Giêsu, bảo người quản lý kêu thợ lại và trả cho mỗingười 1 quan tiền như nhau. Những kẻ làm nhiều giờ trong ngày bực tức vì thấyông chủ nầy không biết gì về kinh tế, tài chánh cả, hơn nữa còn bất chấp lốitính toán và sự công bình thông thường:

"Nầybạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là 1 quantiền sao?...Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ghen tức? Thế là những kẻ đứngchót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàngchót..." (Mt. 20, 13-16).


Không phảitrong xã hội của người Do Thái vào thời Chúa Giêsu còn tại thế, mà ngay giữa xãhội chúng ta, người ta khó lòng chấp nhận chuyện người "đàng hoàng" lạigiao du với lớp người được đánh giá là không "đàng hoàng".

Thời bấygiờ người đồng hương với Chúa Giêsu cho rằng hai giới đặc biệt không "đànghoàng" là những quân thu thuế và người tội lỗi, đặc biệt là các người gáiđiếm. Người tội lỗi bấy giờ còn được xem là những kẻ không lành mạnh về cuộc sốngthân xác, như người phung cùi, tàn tật... Những người Pha-ri-siêu nhiều lần thắcmắc về thái độ sống của Chúa Giêsu và nhắc nhở với các môn đệ Chúa:

"SaoThầy của các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như vậy?"(Mt. 9, 11). "Ông nầy đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng"(Lc. 15, 2).

Theo cácsách Phúc âm ghi lại, thì không những Chúa Giêsu chỉ gặp gỡ, chào hỏi, hay bấtđắc dĩ được mời ăn thì ngại lắm phải chiều người ta, mà thực sự Ngài tự tìm tớinhà người thu thuế, và kẻ tội lỗi, làm thân với họ và ăn ở với họ.

Ông Da-kêulà người "đứng đầu những người thu thuế" (Lc. 19, 2); khi biết ChúaGiêsu đi qua thành phố Giê-ri-cô, ông ấy sợ không chen lấn nổi với đông đảo dânchúng, nên chạy ra đàng trước, trèo lên cây sung để xem Ngài, chẳng qua vì ôngrất lùn. Chúa Giêsu đi qua, nhìn lên cây ấy thấy ông và nói ngay:

"Nầyông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!" (Lc. 19, 5).

Ngườichung quanh xào xáo:
"Nhàngười tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ" (Lc. 19, 7).

Chúa Giêsutự đến để gặp gỡ Da-kêu và loan Tin Mừng:"Hômnay, ơn cứu độ đã đến cho nhà nầy" (Lc. 19, 9)

Và chúngta đều biết Chúa đã chọn 1 trong 12 vị tông đồ của Ngài là Mathêu, trước đó cótên là Lê-vi một người làm nghề thu thuế.Và để giảithích thái độ ngược đời của mình, chính Chúa Giêsu đã nói rõ sứ mệnh của Ngài."Ngườikhoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ýnghĩa câu nầy: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọingười công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi (Mt. 9, 12-13).

6 - Chúa Giê-su thích ăn uống tiệc tùng

Phúc-âmcũng cho chúng ta thấy sự kiện mỗi lần đến nhà nào, gặp ai, đặc biệt là nhữngngười được xã hội xếp loại không "đàng hoàng", Chúa Giêsu lại thườngăn uống. Ngài mở đầu sứ mạng rao giảng công khai bằng việc dự tiệc cưới Cana miềnGalilê (Gioan 2, 1), kết thúc cuộc gặp gỡ chung với các tông đồ trước khi đivào cuộc khổ nạn bằng bữa tiệc ở Giêrusalem gọi là tiệc ly (Mt. 26, 17 và tìếptheo).

Thế nhưnglịch sử nhiều tôn giáo và tâm thức nhiều nền văn hoá không phải đã cho chúng tathấy rằng nói đến thần thánh, đạo đức, tôn giáo thì hẳn phải nói đến ăn chay cầunguyện hay sao!

Luca thuậtlại rằng, sau bữa tiệc lớn tại nhà Lê-vi (tức thánh Mathêu sau nầy) những ngườiPha-ri-siêu và những người thông luật nói với Chúa Giêsu: "Môn đệ ôngGioan năng ăn chay cầu nguyện, môn đệ người Pha-ri-siêu cũng thế, còn môn đệông thì ăn với uống" (Lc. 6, 33). Chúa Giêsu đã dùng những bữa ăn để cứungười tội lỗi như Mađalêna, Da-kêu...

Cái mới củaChúa Giêsu làm cho người Pha-ri-siêu và cả chúng ta khó hiểu đó là tất cả sứ điệpcủa Ngài, không còn phải là ăn chay hay ăn tiệc, nhưng tiên quyết là Yêu thươngphát xuất từ tận đáy lòng mình. Như thánh Augustinô sau nầy tóm tắt trong câu:"Hãy yêu rồi làm gì thì làm" (Ama et fac quod vis).


Do tháiKhông nhữnglui tới bạn bè, với kẻ tội lỗi, lại còn hay dự tiệc với họ, Chúa Giêsu không giữluật lệ của cộng đồng người Do Thái đương thời. Ngài bất chấp luật phải rửa taytrước bữa ăn, đi thẳng vào bàn tiệc nên "ông Pha-ri-siêu lấy làm lạ vì lúcđầu Ngài không rửa tay trước bữa ăn" (Lc. 11, 38). Ðặc biệt trong nhữngngày sa-bát, Ngài hay chữa lành bệnh tật cho người ta, và điều đó đối với ngườiDo Thái đương thời cho là phạm luật. Phúc âm ghi lại nhiều sự kiện như thế, nhưviệc chữa lành người bại tay (Lc. 6, 8-11), chữa người mắc bệnh phù thủng (Lc.14, 1-6), chữa lành một phụ nữ còng lưng (Lc. 13, 14)... Thánh sử Luca ghi rõ:"Ông trưởng hội đường tức tối vì Ðức Giêsu đã chữa lành bệnh vào ngàysa-bát (Lc. 13, 14). Ngài không giữ luật, và các môn đệ theo Ngài cũng không giữluật:

"Vàongày sa-bát, Ðức Giêsu đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ đưa tay bứtlúa ăn. Nhưng có mấy người Pha-ri-siêu nói: "Tại sao các ông làm điềukhông được phép làm trong ngày sa-bát" (Lc. 6, 1-2).

Nhưng trướcnhững lời chỉ trích nầy, Chúa Giêsu trả lời: "Con người làm chủ ngàysa-bát" (Lc. 6, 9). Chúa Giêsu đến để làm trọn lề luật, để ban luật mới làluật yêu thương, là luật có chiều kích nội tâm, để xoá bỏ những lối giải thíchlề luật rắc rối bên ngoài: "Khốn cho các ngươi giả hình, như má tô vôi,bên ngoài trắng trẻo mà bên trong thối tha" (Mt. 23, 13-36).


Trong ToàTổng trấn Phi-la-tô, lúc chịu xử án, Chúa Giêsu bị lính của Tổng trấn chochoàng áo đỏ, đội vương niệm bằng gai để chế nhạo như là kẻ điên cuồng. Nhưngkhông phải chỉ người ngoài, mà ngay cả Phê-rô, người vừa được Chúa Giêsu cử sẽlàm đầu Hội thánh Ngài: "Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng đá, trên tảng đá nầy,Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi..."(Mt. 16, 18), người được Chúa tin yêu như thế cũng không chịu nổi những lời nóinhư điên dại của Chúa Giêsu: "Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiềuđau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, vàngày thứ ba sẽ sống lại" (Mt. 16, 21). Ðiên dại vì gọi môn đệ theo mình, đồngthời thông báo mình phải chịu khổ đau, bị giết chết; và xem ra điên dại hơn nữakhi bảo rằng chết sau ba ngày sẽ sống lại! Và suốt cả các cuốn Phúc âm trangnào cũng làm cho chúng ta ngạc nhiên về thái độ và lời nói khác lạ của Ngài:

"Hãyyêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh emvà cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh má bên nầy, thì hãy giơ cả mábên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Aixin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại... (Lc. 6, 27-31).

Nói như thế,làm sao có thể nghe cho được, khi tâm tư ta còn sống trong tâm trạng "mătđền mắt, răng đền răng"!

Và tôi xinkể cho các bạn kinh nghiệm của tôi về sứ điệp "điên dại" nầy của ChúaGiêsu. Lúc tôi sống những năm tháng tù đày tại quê nhà, có lúc những người canhtù tâm sự cho tôi hay, họ thắc mắc và ngạc nhiên về thái độ vui cười, thân thiệncủa tôi đối với họ: trong hoàn cảnh nầy làm sao có thể thanh thản và dung thứnhư thế được! Tôi đã có dịp chia sẻ các kinh nghiệm đó trong cuốn sách"Năm chiếc bánh, và hai con cá", tôi vừa cho phổ biến trong năm nầy.Nhưng ở đây tôi muốn nói, chính sự "điên dại" của tình yêu thươngThiên Chúa đối với tôi, đối với mọi người là "khuyết điểm" làm tôisay mê hơn cả; sự điên dại đó lôi kéo tôi bước theo Chúa Giêsu!


Một chươngtrình cứu chuộc toàn nhân loại, một dự tính gửi người đi rao truyền Phúc âm chomọi dân nước, mọi thế hệ, thế mà lại chọn và đặt hết tín nhiệm, quyền hành cho Phê-rô,một người chài lưới bộp chộp, ít học rồi còn sợ sệt chối mình nữa!

Và vềphương cách truyền bá, rao giảng nước Thiên Chúa, thì Chúa Giêsu lại dạy cácmôn đệ: "Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực,tiền bạc, cũng đừng có hai áo" (Lc. 9, 3).

Phiêu lưutrong việc tuyển lựa các môn đệ, Chúa Giêsu còn bị ngay các môn đệ Ngài nghi ngờlà quá phiêu lưu. Khi Chúa Giêsu loan báo chương trình Ngài sẽ bị bắt nạp, bịgiết chết và sẽ sống lại trong ngày thứ ba, thì "Các môn đệ buồn phiền lắm"(Mt. 17, 23). Khi Chúa nói với họ: "Nếu các ông không ăn thịt và uống máuCon người, các ông không có sự sống nơi mình" (Gioan 6, 53), thì "nhiềumôn đệ của Ngài liền nói: "Lời nầy chướng ta quá! Ai mà nghe nổi"(Gioan 6, 60). Và, vì thấy lời giảng dạy của Chúa Giêsu khó nghe và phiêu lưuquá, nhiều môn đệ rút lui. Nên Chúa quay hỏi nhóm 12 tông đồ "Cả anh em nữa,anh em cũng bỏ đi sao?" (Gioan 6, 67).

Có lầnkhác, có người lại muốn đi theo Ngài làm môn đệ, nên hỏi: "Thưa Thầy, Thầyđi đâu, tôi cũng xin đi theo". Người trả lời: "Con chồn có hang, chimtrời có tổ, nhưng con người không có chỗ tựa đầu (Lc. 9, 58).

Và cuộcphiêu lưu tột đỉnh của Yêu thương nơi Chúa Giêsu được diễn tả cô động nơi bàica trong thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Phi-líp-phê:

"ÐứcGiêsu Kitô
Vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân phận nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế
Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự (Phl. 2, 6-8).


Mâu thuẫnvì Lời từ Thiên Chúa khác với lời chúng ta.

Làm saochúng ta thấy hợp lý được khi tuyên dương Phúc cho kẻ nghèo, kẻ phải đói, kẻ phảikhóc, kẻ bị người ta oán ghét (xem Lc. 6, 20-22).

"Aimuốn cứu mạng sống mình, thì phải mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi,thì sẽ cứu được mạng sống ấy" (Lc. 9, 24).

Làm sao cóthể ví Nước Thiên Chúa, Nước của Ðấng toàn năng, vô tận với một hạt cải (xemLc. 13, 18-19).

Mà làm saocó thể tuyên xưng là "Con Thiên Chúa, Ðấng hằng sống" lại phải chấpnhận sự chết và chết nhục nhằn trên Thập giá (xem Lc. 23, 70).

Ngày12.10.1998, có một cuộc tĩnh tâm linh mục quốc tế, tại thành phố Monterrey, nướcMexico: 91 giám mục, 1,500 linh mục tham dự. Lúc tôi vừa nói: Tôi yêu các khuyếtđiểm của Chúa Giêsu, các ngài nhìn nhau với vẽ ngạc nhiên, bỡ ngỡ! Nhưng nói đếnđâu các ngài lại cười đến đó, cuối bài các ngài xúm lại quanh tôi và bảo:"Chúng tôi cũng yêu các khuyết điểm của Chúa Giêsu".

**************************

Các bạnthân mến,
Bây giờ, sau khi chúng ta cùng nhau lược qua 10 khuyết điểm của Chúa Giêsu, 10khuyết điểm ghi lại nơi các bản Phúc-âm, tôi lại một lần nữa xác quyết với cácbạn rằng: vì tôi yêu 10 khuyết điểm nầy của Chúa Giêsu, nên chọn Chúa Giêsu làmThầy, làm Mẫu-mực tuyệt đối cho đời tôi. Tôi cũng tâm sự với các bạn rằng, chođến giây phút nầy, tôi không hề có một chút gì ân hận, Chúa Giêsu đã cuốn hútcuộc đời của tôi. Vì Chúa là Tình Yêu đã dẫn lối cho tôi đi, đặc biệt trong nhữngngày tháng tôi cảm thấy xao xuyến, bứt rứt; chúng đã đem lại nguồn vui và hy vọngcho tôi, nhất là trong những giây phút khổ đau, tưởng chừng như không thể chịuđựng nổi. Các bạn biết lý do tại sao không? Vì 10 khuyết điểm đó phát xuất từTình yêu thương mà Thiên Chúa là cha chúng ta ban cho để chúng ta được sống nhờChúa Giêsu:

"Khôngai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạnhữu" (Gioan 15, 13).

Tình yêuđó không nhớ lỗi lầm, không tính toán, không xét nét, không vị kỷ, không phêphán, không câu chấp, không gò bó, không biên giới, không điều kiện; Tình yêuđó yêu điên cuồng đến độ phiêu lưu và hy sinh cả mạng sống mình; tình yêu đókhác với mẫu mực nhỏ hẹp của xã hội và của lối cân nhắc giới hạn của chúng ta.Chúa là Ðấng trọn lành, làm sao có khuyết điểm được, nhưng Chúa lại là tình yêuvô hạn, mầu nhiệm. Trí khôn loài người không hiểu nổi, không tin nổi, nên gọilà khuyết điểm! Khuyết điểm ấy lên đến cùng độ trên thánh giá. Cả 10 khuyết điểmcô đọng vào đó, khi người lính thách đố Chúa: "Nếu ông thật là con ThiênChúa, hãy xuống khỏi Thánh giá để chúng tôi tin" "Chúa Giêsu thinh lặng,lại còn cầu nguyện: "Xin Cha tha cho họ..." Lạy Chúa lúc ấy Chúakhông chết thì làm sao chúng con được sống đời đời.

Tôi khíchlệ các bạn chọn lựa cuộc sống làm chứng 10 khuyết điểm tuyệt vời đó của ChúaGiêsu.

Và để chấmdứt buổi chia sẻ nầy tôi xin kể cho các bạn một sự kiện trong cuộc đời của mộtdanh nhân thế giới đã từng chọn Chúa Giêsu, chọn giáo huấn của Ngài, một giáohuấn mà ông ấy cho là kỳ lạ, mâu thuẫn "Kitô giáo kỳ lạ" (LeChristianisme est étrange, Pascal, Pensées, No 537). Danh nhân ấy là ông BlaisePascal (1623-1662). Khi ông Pascal vừa qua đời vào tuổi 39, người giúp việctrong gia đình xin người chị của ông cho phép mở gấu áo ông mặc lần cuối để xemông thu giấu cái gì trong ấy. Vì mỗi lần thay áo cho ông, chị giúp việc thấyông luôn mở gấu áo cũ lấy một cái gì trong ấy rồi lại tự may vào gấu áo mới.Người chị của Pascal cũng như người giúp việc cắt gấu áo và thấy có một miếnggiấy nhỏ, trên ấy ghi vỏn vẹn câu sau đây:

"Sự sốngđời đời là hiểu biết và yêu mến Ðức Kitô và Ðấng đã sai Người... lửa, lửa, lửa;nước mắt, nước mắt, nước mắt của tình yêu". Ðó là bí quyết của B. Pascal mộtvăn hào, một triết gia, một nhà toán học.

(Ghi lại bài chia sẻ của Ðức Tổng Giám Mục Phanxicô XaviêNguyễn Văn Thuận, sáng thứ Bảy, ngày 12.9.1998, tại nguyện đường Dòng Truyền-GiáoÐức Mẹ Vô Nhiễm (O.M.I), Strasbourg, Pháp trong cuộc họp mặt "Niềm Vui SốngÐạo" của các bạn trẻ Việt Nam Công Giáo sống tại Âu Châu, do Trung-TâmNguyễn-Trường-Tộ tổ chức).
Tác giả Nguyễn Văn Thuận, HY


Nguồn: http://www.dunglac.org

Facebook Twitter Delicious Favorites More

 
Lên đầu trang
Xuống cuối trang